chương 1, tác giả đã giới thiệu những thông tin khái quát về bài nghiên cứu, tính cấp thiết, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng. Từ đó, đưa ra những đóng góp của đề tài. 123doc 5 CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT VỀ KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về thanh khoản tại các NHTM 2.1 Khái niệm thanh khoản Theo định nghĩa của ủy ban giám sát Basel về giám sát ngân hàng: “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức”. Như vậy, có thể hiểu thanh khoản là một thuật ngữ tài chính nhằm để chỉ khả năng chuyển đổi một tài sản thành tiền nhanh nhất với chi phí không đáng kể.
Trong lĩnh vực ngân hàng, thanh khoản là thuật ngữ chỉ khả năng thanh toán của ngân hàng cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu như rút tiền, thanh toán, cho vay mới. Thanh khoản của ngân hàng được coi là tốt khi dễ dàng đáp ứng được những nhu cầu này và dễ dàng huy động vốn với một mức lãi suất hợp lý. Như vậy, có thể hiểu tính thanh khoản của ngân hàng là trạng thái luôn có trong tay một lượng vốn khả dụng vơi chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu hoặc khả khả năng nhanh chóng huy động được vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản.2 Cung cầu thanh khoản Tính thanh khoản của NHTM luôn phải được nhìn ở trạng thái động, tức là xem xét trong tương quan cung – cầu thanh khoản của ngân hàng trong giai đoạn nhất định. Tương quan cung – cầu về vốn thanh khoản này quyết định trạng thái thanh khoản ròng của của ngân hàng tại bất cứ thời điểm nào.
Trong đó, cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm các khoản tiền gửi; doanh thu từ việc bán các dịch vụ tiền gửi; thu hồi các khoản tín dụng đã cấp; bán các tài sản đang có; vay mượn trên thị trường liên tiền tệ. Trong khi đó, cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng. Những hoạt động tạo ra cầu thanh khoản bao gồm: khách hàng 123doc 6 rút tiền từ tài khoản; rút tiền gửi tiết kiệm; yêu cầu vay vốn; thanh toán các khoản vay phi tiền gửi; chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ; thanh toán cổ tức bằng tiền. Những nhân tố tác động đến cung và cầu thanh khoản sẽ tác động đến trạng thái thanh khoản của NHTM, cụ thể như sau: Nhân tố tác động đến cầu thanh khoản: Các điều kiện kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá.
Lãi suất huy động và lãi suất cho vay Sự khác biệt đáng kể về lợi tức giữa các khoản tiền gửi và các cơ hội đầu tư khác. Nhân tố tác động đến nguồng cung thanh khoản: Quy định và chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước. Các điều kiện kinh tế vĩ mô. Sự phát triển, tính dễ dàng tiếp cận của thị trưởng tiền tệ.
Hoạt động của các thị trường khác như thị trường chứng khoán phái sinh.3 Trạng thái thanh khoản Trạng thái thanh khoản ròng NLP (net liquidity position) được xác định như sau: NLP = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Bảng 2.1: Các thành phần của cung và cầu thanh khoản trong ngân hàng Nguồn cung thanh khoản Nguồn cầu thanh khoản - Tiền mặt tại ngân hàng - Khách hàng rút tiền - Tiền gửi của khách hàng - Yêu cầu giải ngân tiền vay từ khách - Doanh thu từ bán các dịch vụ phi tiền hàng được chấp nhận gửi - Thanh toán các khoản vay phi tiền gửi - Thanh toán nợ của khách hàng - Chi phí bằng tiền trong quá trình hoạt - Vay từ thị trường liên ngân hàng động kinh doanh. - Bán tài sản - Thanh toán cổ tức bằng tiền 123doc 7 Có ba trường hợp xảy ra là thặng dư thanh khoản, thâm hụt thanh khoản và cân bằng thanh khoản. Thặng dư thanh khoản xảy ra khi cung vượt cầu thanh khoản, tức là NLP dương. Trong trường hợp này, nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tư số vốn thặng dư này để mang lại hiệu quả tối đa cho tới khi chúng cần được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai.
Ngược lại, khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản, tức là NLP âm, ngân hàng phải đối với tình trạng thâm hụt thanh khoản. Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản và tiết giảm chi phí. Cuối cùng, khi cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản, tức NLP = 0, trường hợp này được gọi là cân bằng thanh khoản. Đây là tình trạng rất khó xảy ra trong thực tế vì cung cầu luôn có sự chênh lệch nhất định.4 Vai trò của thanh khoản tại các NHTM Thanh khoản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi lẽ NHTM cần dự trữ thanh khoản để đáp ứng tất các các biến động hằng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền, chi trả các chi phí thường xuyên, đáp ứng các yêu cầu vay mới và đảm bảo an toàn cho những cú sốc thanh khoản không mong đợi mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay trong dạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn khác.
Bên cạnh đó, đôi khi ngân hàng có đủ khả năng thanh toán nhưng vẫn rơi vào trạng thái kất khả năng thanh khoản do các khoản đầu tư, cho vay không thu hồi kịp để đáp ứng nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn. Khi đó, nguy cơ phá sản là điều có thể xảy ra. Nếu không muốn mất thanh khoản nghiêm trọng thì ngân hàng sẽ chịu vay vốn với lãi suất cao, điều này sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho kết quả kinh doanh của ngân hàng. Với tính chất đặc thù và hiệu ứng dây chuyền trong hệ thống ngân hàng thì thanh khoản đóng vai trò cực kỳ quan trong.
Một khi thanh khoản của một NHTM có vấn đề về thanh khoản thì sẽ lan nhanh cùng với sự lan tỏa của thông tin tạo nên hậu quả khôn lường và sự khủng hoảng tâm lý. Việc rút tiền ồ ạt tại một ngân hàng bị mất thanh khoản sẽ kéo theo một loạt các ngân hàng khác vào tình cảnh tương tự. Khi thanh khoản của hệ thống ngân hàng có vấn đề sẽ ảnh hưởng đến hệ thống tài chính quốc gia, đến mọi lĩnh vực trong xã hội, từ thị trường chứng khoán đến thị trường bất động sản, thị trường lao động, ảnh hưởng đến tiền gửi của người dân và ảnh hường đến tình hình tín dụng của nền 123doc 8 kinh tế. Do vậy, thanh khoản của hệ thống ngân hàng rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của một quốc gia.2 Rủi ro thanh khoản 2.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản Theo Nguyễn Văn Tiến (2010), rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp.
Theo Trần Huy Hoàng (2011), rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng nhu cầu của các hợp đồng thanh toán. Theo Trần Hoàng Ngân (2012), thanh khoản là khả năng có đủ tiền mặt để cho vay và xử lý những yêu cầu rút tiền ký gửi ở một chi phí vừa phải trong một khung thời gian hợp lý. Rủi ro thanh khoản là rủi ro không thể tăng tính thanh khoản hoặc tăng với chi phí cao. Tóm lại, rủi ro thanh khoản được hiểu là nguy cơ không thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán, điều này sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn.
Những nghiên cứu gần đây chứng tỏ rằng hiện tượng thiếu hụt thanh khoản thường là một trong những dấu hiệu đàu tiên cho thấy ngân hàng đang ở trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng. Hậu quả tiếp theo có thể là ngân hàng mất dần các khoản tiền gửi cũ do áp lực rút tiền ngày càng gia tăng, không thể thu hút thêm lượng tiền gửi mới do thái độ dè dặt của công chúng đối với ngân hàng, một số ngân hàng thì ở trong tình thế cho vay hỗ trợ một cách miễn cưỡng vì phải huy động vốn với lãi suất cao hơn vay, càng làm suy giảm lợi nhuận của các ngân hàng. Rủi ro thanh khoản cũng có thể được hiểu là sự đánh đổi giữa lợi ích ngắn hạn của ngân hàng và rủi ro tiềm ẩn trong dìa hạn. Đó cũng là một phần hệ quả của tình trạng tăng trưởng tín dụng nóng trong một thời gian dài.
Khi bong bóng tín dụng xuất hiện, ngân hàng mất khả năng thanh toán những nghĩa vụ nợ đã cam kết thì việc đỗ vỡ của hệ thống 123doc 9 ngân hàng là điều có thể xảy ra. Việc mất khả năng thanh toán là kết quả của một quá trình quản trị rủi ro thanh khoản chưa phù hợp. Trong những năm gần đây, tình trạng thiếu hụt thanh khoản ở mức độ lớn tại một số ngân hàng và trở thành một trong những nguyên nhân đưa đến phá sản đã khẳng định rằng vấn đề thanh khoản là không thể bỏ qua. Do đó, ngày nay, công tác quản trị thanh khoản trờ nên quan trọng hơn so với trước đây rất nhiều, bời vì một ngân hàng có thể bị đóng cửa nếu không đáp ứng đủ nhu cầu thanh khoản, mặc dù về kỹ thuật, nó vẫn còn khả năng trả nợ.
Hơn nữa, năng lực quản trị thanh khoản là thước đo quan trọng về tính hiệu quả tổng thể để đạt các mục tiêu dài hạn của ngân hàng.2 Phân loại rủi ro thanh khoản Do rủi ro thanh khoản có thể phát sinh từ bên tài sản có hoặc bên tài sản nợ của bảng cân đối ngân hàng nên người ta thường phân loại hai loại rủi ro thanh khoản: rủi ro thanh khoản thị trường và rùi ro thanh khoản huy động vốn. Rủi ro thanh khoản thị trường là rủi ro khi ngân hàng không thể chuyển đổi hay bán tài sản của mình thành tiền mặt hoặc có thể chuyển đổi/bán được nhưng phải chịu tổn thất lớn.