CHƯƠNG 1 Các Ngân hàng TMCP Việt Nam đang thay đổi theo mô hình hình chuyển đổi số 4.0 theo đó là những thách thức đa dạng hóa thu nhập trong tình hình cạnh tranh khốc liệt do đó nghiên cứu đề tài“tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam” là cần thiết nhằm đưa ra những cơ sở lý luận và bằng chứng thực tế của việc đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động của các NH TMCP Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước như Lee và cộng sự (2014) đề tài lấy dữ liệu của 24 NH TMCP Việt Nam giai đoạn 2010-2022 để thực hiện giải quyết các câu hỏi nghiên cứu thông qua việc nêu lên cấu trúc tổ chức của đề tài để người đọc nắm bắt nội dung. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập 2.
Khái niệm về đa dạng hóa thu nhập Trong kinh doanh việc phụ thuộc vào một nguồn doanh thu là động thái rủi ro do đó việc mở rộng các chiến lược đầu tư khác nhau hay nói khác đi đa dạng hóa doanh thu là biện pháp tối ưu để doanh nghiệp đối mặt với các thay đổi thị trường tốt nhất. Theo nghiên cứu của Sanya & Wolfe (2011) việc kết hợp các chiến lược đầu tư cùng một lúc và khả năng các khoản đầu tư di chuyển cùng chiều là khó có thể xảy ra. Việc thay đổi các đặc điểm những dòng sản phẩm hiện tại là phương thức thường thấy của các doanh nghiệp trong việc đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa doanh thu. Hay thường thấy nhất là các doanh nghiệp kinh doanh từ hai hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau để không bị động trong một mảng doanh thu nào.
Trong khi đó ngân hàng muốn đa dạng hóa thu nhập thì phải chủ động đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ không phụ thuộc vào thu nhập hoạt động cho vay và tiền gửi như các ngân hàng truyền thống. Nghiên cứu về đa dạng hóa ngân hàng phải kể đến Mercieca và cộng sự (2007) trong đó việc đa dạng hóa thể hiện ở đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ tài chính, đa dạng hóa địa lý và kết hợp địa lý với kinh doanh. Tùy thuộc đặc điểm các ngân hàng sẽ lựa chọn chiến lược phù hợp tình hình kinh doanh nhưng mục tiêu cuối vẫn là tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí cùng với việc mở rộng địa bàn đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững. Việc đa dạng hóa thu nhập giờ đây được xem là chỉ tiêu phản ánh kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh ngân hàng hơn là xem đây như một hình thức đa dạng hóa thu nhâp hoạt động ngân hàng.
Các nguồn thu nhập của ngân hàng được phân ra thành thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi. Các mảng dịch vụ tư vấn mà ngân hàng phát triển tạo nên các khoản thu nhập như hoa hồng và phí làm mở rộng các khoản thu ngoài lãi. Khác với mô hình truyền thống các ngân hàng hiện nay không còn tập trung phát triển một mảng thu nhập từ lãi, do đó việc thay đổi tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập là cách thức thể hiện sự đa dạng hóa thu nhập. 7 Việc dịch chuyển các khoản thu sang thu nhập ngoài lãi chứ không tập trung vào riêng hoạt động cho vay và nhận tiền gửi làm thay đổi tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập.
Nhưng vấn đề đặt ra là việc đa dạng hóa các nguồn thu thì lợi nhuận ngân hàng có tăng một cách bền vững hay không? 2. Đo lường đa dạng hóa thu nhập Thu nhập của ngân hàng chia ra 2 nhóm chính (Lee & cộng sự (2003): thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi. Dựa trên các thông tin có trên BCTC của các NHTM, có thấy nhận thấy rằng thu nhập ngoài lãi của NHTM bao gồm 3 nhóm chính: thu nhập từ dịch vụ; thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối; thu nhập từ mua bán chứng khoán kinh doanh; thu nhập từ mua bán chứng khoán đầu tư; thu nhập từ hoạt động khác Thu nhập từ hoạt động dịch vụ Thu nhập từ hoạt động dịch vụ bao gồm các thu nhập từ các dịch vụ như: dịch vụ thanh toán và tiền mặt; dịch vụ ngân quỹ; dịch vụ ủy thác và đại lý,… Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối đến từ hoạt động kinh doanh tiền tệ giao ngay (đổi tiền ngoại tệ) hoặc từ các công cụ phái sinh tiền tệ. Thu nhập từ mua bán chứng khoán kinh doanh Các NHTM cũng như các định chế tài chính khác có thể mua bán chứng khoán trong thời gian ngắn để thu về khoản chênh lệch về giá chứng khoán (trading).
Các ngân hàng sẽ mua chứng khoán lúc giá thấp và bán đi lúc giá lên cao. Thu nhập từ mua bán chứng khoán đầu tư Thu nhập từ mua bán chứng khoán đầu tư tương tự như mua bán chứng khoán kinh doanh, nhưng các ngân hàng sẽ mua trong dài hạn, và thay vì mong giá chứng khoán lên thì ngân hàng chứng khoán sẽ sinh lời (lãi suất đối với trái phiếu hoặc cổ tức đối với cổ phiếu). Thu nhập từ các hoạt động khác Bao gồm thu từ các công cụ tài chính phái sinh khác hoặc thu hồi nợ đã được xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro.1 Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua thu nhập ngoài lãi Theo Stiroh & Rumble (2006) để xác định mức độ đóng góp của thu nhập ngoài lãi vào tổng thu nhập của ngân hàng, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi được sử dụng với công thức như sau: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 = = 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 + 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 Ngoài ra, tỷ lệ cụ thể của từng danh mục ngoài lãi cũng có thể được tính toán tương tự như tỷ lệ thu nhập ngoài lãi. 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 𝑡ừ 𝑖 𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 𝑡ừ 𝑖 = 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 Trong đó i là các hoạt động tạo ra thu nhập ngoài lãi như hoạt động dịch vụ thanh toán, hoạt động kinh doanh chứng khoán, … 2.2 Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua chỉ số Herfindahl- Hirschman (HHI) Một chỉ số để đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng được sử dụng bởi Stiroh & Rumble (2006) và Meslier & cộng sự (2014) gọi là chỉ số HHI được tính như sau: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 2 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 2 𝐻𝐻𝐼 = ( ) +( ) 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 Giá trị của chỉ số HHI càng cao cho thấy ngân hàng càng tập trung hơn (ít đa dạng hơn), giá trị thấp hơn cho thấy ngân hàng đa dạng hơn.
Nói cách khác, giá trị HHI càng cao thì nguồn thu của thu nhập ngoài lãi có mức độ càng thấp, HHI càng thấp thì thu nhập ngoài lãi có mức độ càng cao. Lý thuyết về hiệu quả hoạt động ngân hàng. Khái niệm hiệu quả hoạt động ngân hàng. Hiệu quả theo Farrel (1957) là một thước đo về độ thành công của việc phân bổ các yếu tố đầu vào có thể sử dụng và kết quả đầu ra mà các đơn vị đạt được mục tiêu 9 lợi nhuận.
Trên nhiều phương diện tiếp cận, hiệu quả là phạm trù để đánh giá khả năng đạt được doanh thu mong muốn trên cơ sở có các chi phí đầu vào cho trước hay khác hơn hiệu quả là lợi ích đạt được trong các các hoạt động. Trong kinh tế hiệu quả được định nghĩa là mức độ thành công của các ngân hàng trong việc sử dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu lợi nhuận đặt ra. Hiệu quả cho thấy mối liên hệ giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra, cho thấy chất lượng các hoạt động kinh doanh và chênh lệnh giữa hai đại lượng này càng lớn hiệu quả càng cao. Khi so sánh sự thành công giữa các doanh nghiệp ta thường xét hiệu quả kinh doanh trên phương diện đơn vị đó có thể cung cấp nhiều sản phẩm, tạo ra nhiều lợi nhuận hơn mà không cần dùng nhiều nguồn lực hơn đơn vị khác.
Với các ngân hàng thương mại thì khả năng các nhà quản trị sử dụng các yếu tố đầu vào ở mức chi phí thấp nhất để tạo ra yếu tố đầu ra mức lợi nhuận cao nhất được xem là hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Bản chất ngân hàng là tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận cho nên trên phương diện rủi ro chấp nhận được thì khả năng sinh lời để đạt được thu nhập theo kế hoạch trong mức an toàn, khả năng tăng trưởng thị phần và thu hút đầu tư là cơ sở tồn tại và phát triển lâu dài của ngân hàng. Một tổ chức tài chính như ngân hàng, điều làm thỏa mãn các cổ đông, nhân viên, người gửi tiền và các nhà đầu tư khác chính là kết quả kinh doanh thể hiện ở các báo cáo tài chính hàng năm thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận, vốn chủ sở hữu, tài sản, giá trị cổ phiếu. Trong đó lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện hiệu quả hoạt động và sự phát triển bền vững của ngân hàng.
Sự khác biệt giữa các ngân hàng xét trên các mặt thì khả năng sử dụng các nguồn lực để đạt được việc tối thiểu chi phí và tối đa lợi nhuận là hiệu quả kinh doanh khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu này, hiệu quả hoạt động ngân hàng được phân tích là mức độ thành công mà ngân hàng đạt được trong việc tối ưu hóa các nguồn lực đầu vào để đạt mức tối đa về kết quả đầu ra, thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận. Ngoài ra hiệu quả kinh doanh còn xem xét đến yếu tố điều chỉnh rủi ro. Rủi ro của các ngân hàng được hiểu là sự thay đổi trong thu nhập,là sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kì vọng của ngân hàng và đo lường bằng mức độ biến động của lợi nhuận 10 hay mức độ biến động của tỷ suất sinh lời.
Điều này chứng tỏ là rủi ro của ngân hàng tính bằng độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời. Vì vậy, hiệu quả kinh doanh điều chỉnh rủi ro của ngân hàng chính là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng có xét đến yếu tố rủi ro ngân hàng và được tính bằng tỷ suất sinh lời chia cho độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời.