CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTM 1.1 Cơ sở lý luận về khả năng sinh lời 1.1 Khái niệm và các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Khái niệm NHTM Theo tài liệu học tập Quản trị Ngân hàng của PGS.Đỗ Thị Kim Hảo và cộng sự ( 2022) có rất nhiều định nghĩa về Ngân hàng thương mại theo các khía cạnh kinh tế khác nhau, Dựa theo các chức năng trong nền kinh tế ngân hàng thương mại được định vị như một trung gian tài chính luân chuyển vốn giữa người thừa vốn và người thiếu vốn tập trung thanh toán hỗ trợ chi trả cho hàng hóa dịch vụ. Dựa trên cơ sở các nghiệp vụ cung cấp cho khách hàng ngân hàng thương mại được hiểu là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng tiết kiệm và thanh toán và các dịch vụ thanh toán, thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế Ở Mỹ, Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Việt Nam, Ngân hàng thương mại được hiểu là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của chính phủ về tổ chức và hoạt động NHTM). Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại. Từ đó NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi,cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán,. vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Sinh viên: Nguyễn Thị Quyên 11 MSV: 23A4010540 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Tín Nghị Các hoạt động kinh doanh của NHTM - Nhận tiền gửi: Hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức cá nhân dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, Tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. - Cấp tín dụng: Là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác - Cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản : Việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. - Các hoạt động kinh doanh khác: + Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn Ngân Hàng, tài chính + Các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn + Tư vấn Tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp và tư vấn đầu tư + Mua bán trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, dịch vụ môi giới tiền tệ + Lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến hoạt động ngân hàng sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.2 Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Thị Xuân Liễu 2010, phân tích khả năng sinh lời là quá trình nghiên cứu đề tài đánh giá toàn bộ quá trình và hiệu quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần khai thác từ đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Theo TS Nguyễn Thị Thu Hiền 2017, khả năng sinh lời là một trong các đo lường quan trọng đánh giá kết quả tài chính của các ngân hàng thương mại được xem xét trên cơ sở kết hợp kết quả kinh doanh và nguồn lực đang sử dụng khả năng sinh lời Sinh viên: Nguyễn Thị Quyên 12 MSV: 23A4010540 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Tín Nghị là nền tảng quan trọng giúp các ngân hàng đổi mới đa dạng hóa sản phẩm từ đó kinh doanh hiệu quả. Mọi ngân hàng thương mại khi kinh doanh đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận. Vì vậy các ngân hàng thương mại cần phải chú trọng quan tâm đến khả năng sinh lợi của mình vì có khả năng sinh lợi thì mới có khả năng tồn tại, mở rộng phát kinh doanh.
Tóm lại khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại hiệu quả qua việc quản lý kinh doanh và sử dụng nguồn lực ngân hàng. VIệc đánh giá khả năng sinh lời giúp cho các ngân hàng thương mại nhìn nhận lại kết quả kinh doanh từ đó giúp cho các nhà điều hành các nhà quản trị đưa ra các chiến lược phù hợp cũng như giúp cho các nhà đầu tư quan tâm đến ngân hàng thương mại.3 Chỉ số đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Dựa trên các số liệu các báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại như lợi nhuận trước thuế, thu nhập hoạt động,. một số các hệ số tài chính căn bản như: Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM),. được các ngân hàng và các nhà đầu tư tính toán sử dụng để phân tích các khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại.
Từ đó các nhà đầu tư, các nhà quản trị có cái nhìn khái quát nhất về tình hình kinh doanh NHTM, từ đó đưa ra các chính sách quyết định phù hợp. Chỉ số lợi nhuận ròng trên tài sản-ROA (Return On Assets) Chỉ số ROA cho biết với một đồng tài sản đầu tư ban đầu ngân hàng có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thể hiện khả năng của Hội đồng quản trị trong việc chuyển tài sản của Ngân hàng thành lợi nhuận. Chỉ tiêu ra ngày càng cao càng tốt cho thấy ngân hàng đang sử dụng tốt nguồn lực của mình để tạo ra lợi nhuận. Chỉ số này đo lường mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của NHTM.
Công thức: ROA= lợi nhuận sau thuế/ tổng tài sản bình quân Chỉ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu-ROE (Return On Equity) ROE hay tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đo lường khả năng sinh lời của một khoản đầu tư trên một đồng vốn bỏ ra tỷ số này quan trọng đối với các cổ đông, cũng có thể hiểu rằng chỉ số này đo lường khả năng sử dụng vốn hiệu quả của ngân hàng thương mại. Công thức: ROE= Lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu bình quân Sinh viên: Nguyễn Thị Quyên 13 MSV: 23A4010540 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Tín Nghị ROE phản ánh thu nhập các cổ đông nhận được từ hoạt động kinh doanh ngân hàng. Thông thường chỉ ROE càng cao càng chứng tỏ ngân hàng thương mại sử dụng có hiệu quả đồng vốn của cổ đông và khả năng tạo ra lợi nhuận càng cao.
Chỉ số ROE cao còn có ý nghĩa là ngân hàng thương mại đã cân đối một cách hài hòa giữa Vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình kinh doanh. Chỉ tiêu này được sử dụng rộng rãi tại các ngân hàng thương mại như một mục tiêu chiến lược. Chỉ số NIM (Net Interest Margin) Theo Thông tư số 52/2018/TT-NHNN, Thu nhập lãi cận biên là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tổ chức tín dụng. Chỉ tiêu này phản ánh chênh lệch giữa lãi suất huy động bình quân và lãi suất cho vay bình quân của tổ chức tín dụng.
Công thức: NIM= Thu nhập lãi thuần/ Tài sản có sinh lãi bình quân Trong đó tài sản có sinh lãi bình quân bao gồm là các mục tiền gửi tại ngân hàng nhà nước, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác và cho vay các tổ chức tín dụng khác (không bao gồm dự phòng rủi ro), Cho Vay khách hàng (Không bao gồm dự phòng rủi ro), mua nợ và chứng khoán đầu tư (không bao gồm dự phòng giảm giá). Tỷ lệ này đo lường khả năng sinh lời cơ bản từ hoạt động cho vay của đơn vị theo mức tài sản có sinh lãi bình quân. Đây là yếu tố thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận trong hoạt động của lĩnh vực kinh doanh tiền tệ (huy động vốn và cho vay). Chỉ tiêu NIM phản ánh tốc độ tăng trưởng nguồn thu từ lãi so với tốc độ tăng chi phí.
Nói cách khác NIM phản ánh chênh lệch giữa lãi suất huy động bình quân và lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng. NIM càng cao càng có lợi cho ngân hàng vì tỷ lệ lãi tạo ra trên tài sản có sinh lời của đơn vị là cao phản ánh ngân hàng đã tối đa hóa các nguồn thu từ lãi và giảm thiểu chi phí.2 Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 1.1 Nhân tố bên trong (Vi mô) Quy mô ngân hàng (SIZE) Quy mô ngân hàng hay tổng tài sản là tất cả nguồn lực mà ngân hàng đang có và đang nắm giữ thông qua các nguồn lực này các ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh để đạt được mục tiêu cụ thể mà mục tiêu quan trọng nhất là gia tăng, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng và đạt được các lợi ích kinh tế trong tương lai. Sinh viên: Nguyễn Thị Quyên 14 MSV: 23A4010540 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Tín Nghị Vậy nên, các nhà quản trị sẽ dùng nhân tố quy mô tài sản để xem xét, đưa ra các chính sách chiến lược phát triển phù hợp.
Đây là chỉ tiêu để giải thích cho sự khác biệt về hoạt động kinh doanh, công tác quản lý, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng.