Chương 1. Cơ sở luận lý luận về quản trị rủi ro hoạt động của ngân hàng thương mại. Thực trạng quản trị rủi ro hoạt động tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Giang Chương 3. Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro hoạt động tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Giang 8 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LUẬN LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Theo quan điểm truyền thống, rủi ro được hiểu một chiều với nghĩa tiêu cực, gắn với những sự kiện xảy ra gây tổn thất, mất mát, nguy hiểm. Theo đó, rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may (Từ điển từ và ngữ Việt Nam, 1998).
Khác với quan điểm thông thường về rủi ro, rủi ro theo quan điểm hiện đại, bao hàm nghĩa rộng hơn. Bên cạnh nghĩa tiêu cực thì rủi ro còn mang lại cơ hội. Như vậy, rủi ro lúc này là bất cứ điều gì không chắc chắn có thể ảnh hưởng tới các kết quả của chúng ta so với những gì chúng ta mong đợi (David Apgar, 2006). Đồng ý với quan điểm này, Allan Willett (1951) kết luận rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi.
Nhận định rủi ro có thể được ước lượng, Frank Knight (1964) nhấn mạnh rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được. Một cách kỹ thuật hơn, Irving Preffer (1956) cho rằng rủi ro là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất. Dù tốt hay không thì đối với người quản trị ngân hàng, rủi ro được xếp vào nghĩa tiêu cực. Rose (2004) định nghĩa rủi ro đối với một ngân hàng có nghĩa là mức độ không chắc chắn liên quan tới một vài sự kiện.
Với mạng lưới khách hàng đa dạng cùng lúc phải đối mặt với sự biến động nhất định trong nền kinh tế, kinh doanh ngân hàng gặp nhiều rủi ro, trong đó có RRHĐ, hay còn gọi là rủi ro vận hành, rủi ro tác nghiệp Khái niệm RRHĐ đầu tiên được BIS (1998) nhắc tới như một loại rủi ro được xem là “phần còn lại ngoài các rủi ro tín dụng và thị trường và có liên quan tới sự sai sót của hệ thống kỹ thuật hoặc cán bộ ngân hàng”. Ngoài ra, RRHĐ là loại rủi ro xuất hiện trong hầu hết các hoạt động của ngân hàng nhưng lại khó lường nhất về thời điểm xảy ra và hậu quả (Lê Thanh Tâm và Phạm Bích Liên, 2009). Ở góc độ khác, RRHĐ được hiểu là loại rủi ro liên quan đến việc tổ chức điều hành trong ngân hàng (Crouhy, Galai và Mark, 2001). Ủy ban Basel định nghĩa RRHĐ là 9 rủi ro xảy ra trong quá trình tác nghiệp do quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc không hoạt động, hay do các sự kiện bên ngoài.
RRHĐ bao gồm rủi ro pháp lý nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro danh tiếng. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng khái niệm rủi ro hoat động của Basel II. Phân loại rủi ro hoạt động Phân loại RRHĐ được thực hiện theo nhiều tiêu chí khác nhau: theo nguyên nhân phát sinh, theo nhóm sự kiện RRHĐ xảy ra. * Căn cứ vào nguyên nhân gây nên rủi ro hoạt động, rủi ro hoạt động phân loại thành các nguyên nhân sau: rủi ro công nghệ (technology risk), rủi ro con người (employee risk), rủi ro khách hàng (customer risk), rủi ro tài sản vốn (capital asset risk) và gian lận bên ngoài (external risk).
Theo Basel II, bốn nguyên nhân làm phát sinh RRHĐ gồm: Con người, quy trình, hệ thống và nguyên nhân khách quan do yếu tố bên ngoài: - Con người: sự cố con người được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả thiếu chuyên môn lẫn sự gian lận, sự không tuân thủ những quy trình và chính sách hiện hành. - Quy trình: Những thủ tục và biện pháp kiểm soát báo cáo, theo dõi và quyết định không thỏa đáng, những thủ tục xử lý thông tin không hợp lý. Ví dụ sai sót trong ghi chép giao dịch hoặc kiểm tra tài liệu pháp lý, những trục trặc tổ chức, những rủi ro không được phát hiện vượt qua giới hạn, sự kém cỏi trong quản lý theo dõi rủi ro… - Hệ thống: Đầu tư công nghệ không phù hợp, lỗi tích hợp từ vận hành hệ thống, lỗ hổng an ninh hệ thống và có thể phát sinh bất cứ khi nào hệ thống công nghệ bị trục trặc hoặc là khi hệ thống hỗ trợ bên trong ngừng hoạt động. Đây chỉ là một bộ phận của RRHĐ, nhưng lại có thể ảnh hưởng đến tất cả các loại rủi ro khác trong ngân hàng - Khách quan (các yếu tố bến ngoài): Các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng cũng góp phần gây ra RRHĐ.
Các thay đổi về pháp lý, chính trị, các 10 hành vi lừa đảo, trộm cắp hoặc phạm tội của các đối tượng bên ngoài, thời tiết khắc nghiệt cũng có thể tạo ra hoặc làm tăng thêm các rủi ro trong ngân hàng. RRHĐ đặt ra những thách thức về dữ liệu và phương pháp. Để mô phỏng nó đòi hỏi phải phân loại các sự kiện rủi ro cộng với đánh giá tần suất và hệ quả của chúng, đồng thời phải có dữ liệu lịch sử về số lượng và tổn thất của các sự kiện rủi ro. Bên cạnh việc thống kê, thì các nhà quản trị đưa ra được dự đoán về các sự kiện có thể xảy ra và hậu quả tiềm ẩn của chúng, chi phí bảo hiểm tương ứng với tần suất xảy ra cũng như chi phí của các sự kiện đó và chi phí từ việc thu thập dữ liệu từ các tổ chức khác.
Danh mục phân loại RRHĐ theo Basel II (Nguồn: Tài liệu Basel II) * Căn cứ vào nhóm các sự kiện rủi ro hoạt động: Khi RRHĐ xảy ra, nghĩa là các sự kiện RRHĐ xảy ra, sự kiện RRHĐ áp dụng đối với mỗi loại nghiệp vụ của ngân hàng, có 7 nhóm sự kiện RRHĐ được phân chia như sau: - Nhóm sự kiện rủi ro do gian lận nội bộ (Internal Fraud): đó là những tổn thất do hành vi lường gạt, gian lận tài sản, vi phạm các quy định và nguyên tắc của ngân hàng như: giao dịch không khai báo, hành động ngoài thẩm quyền/vượt thẩm quyền, trộm cắp, gian lận, trốn thuế, kinh doanh nội gián. - Nhóm sự kiện rủi ro do gian lận bên ngoài (External fraud): gian lận bên ngoài là gian lận gây ra tổn thất do hành vi lường gạt, gian lận tài sản, vi phạm pháp luật của bên thứ 3; trộm cắp, gian lận, giả mạo, đánh cắp thông tin, phá hỏng an ninh mạng…. 11 - Nhóm sự kiện rủi ro do thực tiễn công việc và an toàn nơi làm việc (Employment, practice and workplace safety): đây là những thiệt hại do những hành vi không phù hợp với luật lao động, sức khỏe và an toàn lao động hoặc thỏa thuận liên quan đến yêu cầu bồi thường cá nhân. - Nhóm sự kiện rủi ro liên quan đến khách hàng, sản phẩm và hoạt động kinh doanh (clients, products, and business practices): đó là những thiệt hại phát sinh từ mâu thuẫn với khách hàng (tiết lộ thông tin, vi phạm hợp đồng.); sản phẩm bị lỗi, vi phạm những quy định thị trường (như phá giá, độc quyền, kinh doanh không giấy phép, rửa tiền…).
- Nhóm sự kiện rủi ro gây thiệt hại về tài sản vật chất (damage to physical assets): đó là nhóm sự kiện rủi ro xảy ra làm mất mát, hư hỏng tài sản, vật chất do thiên tai (mưa bão, động đất…) hay do con người gây ra như: phá hoại, khủng bố… - Nhóm sự kiện xảy ra làm gián đoạn kinh doanh và lỗi hệ thống (business discription anh system failure): đó là những rủi ro mất mát, thiệt hại phát sinh từ việc gián đoạn kinh doanh hay lỗi hệ thống như phần cứng, phần mềm, thông tin liên lạc (như điện báo, điện thoại), điện nước và các đầu vào thiết yếu khác. - Nhóm sự kiện rủi ro liên quan đến quy trình vận hành, giao hàng và quản lý (Execution, delivery ang process management): đó là rủi ro do mất mát, thiệt hại do không thể hoàn tất giao dịch hay thất bại trong quản lý quy trình từ mối quan hệ với các đối tác kinh doanh như: truyền thông sai, không thực hiện đúng hạn, lỗi số liệu và kế toán, báo cáo bên ngoài không chính xác, thiếu tài liệu pháp lý, thông tin khách hàng bị sai, truy cập thông tin khách hàng khi không được phép tranh chấp với đối tác 1. Hậu quả của rủi ro hoạt động RRHĐ không chỉ gây thiệt hại cho ngân hàng về mặt tài chính mà còn gây ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, con người và thương hiệu. Theo Basel II, sự kiện RRHĐ xảy ra sẽ ảnh hưởng về mặt tài chính và phi tài chính của ngân hàng tùy thuộc vào mức độ và tần suất xảy ra của sự kiện RRHĐ đó.
Mức độ ảnh hưởng có thể xảy ra từ các sự kiện RRHĐ đó là: trách nhiệm pháp lý, phạt liên quan đến sự 12 tuân thủ, tổn thất hoặc hư hỏng tài sản, bồi thường vật chất, mất nguồn viện trợ, làm giảm giá trị tài sản, ảnh hưởng đến danh tiếng và ngắt quãng hoạt động nghiệp vụ của NHTM. + Đối với hoạt động thanh toán có thể xảy ra giao dịch không thành công do sai sót quy trình nghiệp vụ, lỗi tác nghiệp của cán bộ hoặc do lỗi CNTT, làm gián đoạn điện thanh toán. + Đối với hoạt động tài chính có thể xảy ra việc định giá tài sản không trung thực, các báo cáo tài chính có thông tin sai lệch, bất cân xứng trong thu thập thông tin mềm, các khoản mục kế toán không được đối chiếu. + Đối với lĩnh vực công nghệ thông tin là tình trạng mất kiểm soát hệ thống, hoặc hệ thống cơ sở dữ liệu ngừng hoạt động.
+ Đối với hoạt động marketing và bán hàng làm cho ngân hàng rơi vào tình trạng triển khai các sản phẩm mới mà không bảo đảm cơ sở hạ tầng phù hợp do thiếu quy trình kiểm duyệt sản phẩm mới. + Đối với hoạt động quản lý nhân sự, hậu quả có thể là hành vi vi phạm pháp luật trong vấn đề kết thúc hợp đồng lao động, bố trí cán bộ không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn, dẫn đến năng suất lao động kém, thiếu động lực làm việc, thiếu sự gắn kết giữa người lao động và người sử dụng lao động. + Đối với uy tín của ngân hàng, có thể mất khách hàng hoặc uy tín bị sụt giảm từ đó dẫn đến hậu quả làm giảm lợi nhuận hoặc có thể gây mất vốn của các ngân hàng.