Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu 9 Chương này bao gồm các nội dung chính như lý do nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, pham vị và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Chương này là tổng hợp những lý thuyết nền tảng về hiệu quả hoạt động ngân hàng, khả năng sinh lời của ngân hàng và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng cũng như lý thuyết về mối quan hệ giữ RRTK và KNSL. Bên cạnh đó, chương 2 cũng sẽ tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước về khả năng sinh lời của ngân hàng, từ đó so sánh những điểm khác biệt cơ bản giữa nghiên cứu của tác giả so với các nghiên cứu trước. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và xây dựng mô hình Từ những đút kết của những nghiên cứu thực nghiệm, kết hợp các lý thuyết nền tản đã nghiên cứu ở chương 2, chương 3 sẽ xây dựng và lựa chọn các phương pháp nghiên cứu nào là phù hợp, mô tả mẫu nghiên cứu, đưa ra các giả thuyết và từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu Chương 4 sẽ trình bày kết quả nghiên cứu bằng việc thực hiện phần mềm thống kê Stata 15 từ đó chiết xuất ra các kết quả thống kê được như: mô tả mẫu nghiên cứu, phân tích hệ số tương quan của các biến mô hình nghiên cứu, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi, kiểm định hiện tượng tự tương quan. So sánh kết quả giữa các phương pháp OLS, REM, FEM và sau đó dùng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan nếu có trong mô hình. Để xác định kết quả cuối cùng của mô hình tác giả sử dụng mô hình SGMM 2 bước để kiểm định hiện tượng nội sinh, so sánh với các phương pháp OLS, FEM, REM, FGLS từ đó đánh giá sự khác biệt của các phương pháp Chương 5: Kết luận và hàm ý Bám sát vào trên kết quả của mô hình nghiên cứu, các lý thuyết nền tảng cũng như tham khảo kết luận của những nghiên cứu trước cùng quan điểm của tác giả từ đó đưa ra những hàm ý chính sách nhằm nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng 10 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Cơ sở lý luận về rủi ro thanh khoản 2.
Khái niệm rủi ro thanh khoản Có nhiều quan điểm về rủi ro thanh khoản, cụ thể: Theo Ủy ban Basel (2003) về giám sát ngân hàng phát biểu rằng “rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng không có khả năng gia tăng quỹ trong tài sản hoặc nghiã vụ nợ với chi phí thấp nhất”. Trương Quang Thông (2013) rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, do không có khả năng chuyển đổi thành tiền hoặc không có khả năng huy động, vay mượn để đáp ứng các hợp đồng đã cam kết trước đó. Decker (2000) định nghĩa về rủi ro thanh khoản cho rằng có thể phân loại rủi ro thanh khoản theo hai cách sau: rủi ro thanh khoản thị trường và rủi ro thanh khoản tài trợ. Bởi vì thông tin thị trường không đầy đủ hoặc sự gián đoạn của thị trường mà các ngân hàng phải đối mặt với những rủi ro không dễ dàng gì bù đắp được nếu không giảm giá thị trường, đây được xem là rủi ro thanh khoản thị trường.
Rủi ro thanh khoản tài trợ xuất hiện khi ngân hàng không có khả năng thanh lý nhanh các tài sản hoặc do thiếu nguồn vốn tài trợ dẫn đến việc các ngân hàng phải đối mặt với nghĩa vụ nợ của mình vào ngày đáo hạn mà không thể thực hiện đúng cam kết. Thông qua thị trường tài chính mà RRTK thị trường và RRTK tài trợ có tác động với nhau, từ đó có thể tác động lớn đến các tổ chức tín dụng trên thị trường, đặc biệt là trong giai đoạn biến động bất thường của thị trường tài chính. Để có thể phục vụ nhu cầu vốn của mình, các NHTM thường thực hiện các cách thức sau: (i) tiến hành các giao dịch hoán đổi ngoại hối (ii) thực hiện các hoạt đột tín dụng trên thị trường liên ngân hàng (iii) bán các tài sản của mình đang nắm giữ trên thị trường tài chính và cuối cùng là có thể thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn hoặc tái chiết khấu từ NHTW. Nhìn chung, Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro thường trực của các ngân hàng thương mại, xuất hiện khi các tổ chức này không thể đáp ứng nhu cầu vốn, do họ 12 không thể dự tính được nhu cầu vốn phát sinh, hoặc khó khăn trong việc hóa lỏng tài sản tài chính; gây ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh và tài chính.
Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản Để đo lường rủi ro thanh khoản, ngân hàng có thể sử rủi ro thanh khoản sử dụng một trong số những tiêu chí và phương pháp khác nhau để lượng hóa rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài trình bày một số phương pháp để đo lường rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng như sau: 2. Phương pháp dựa theo quy định của Ủy ban Basel về tỷ lệ đảm bảo. Các nhà nghiên cứu trước đây như nghiên cứu của Cucinelli, 2013 đề xuất phương pháp dựa theo quy định Basel III (2010) về tỷ lệ đảm bảo an toàn gồm hai tỷ lệ: tỷ lệ tài trợ ổn định ròng (NSFR_net stable funding ratio) và tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản (LCR _the liquidity coverage ratio).
Tỷ lệ khả năng chi trả: trong quy định Basel III của Basel Committee on Banking Supervision (2013) có đề cập đến tỷ lệ khả năng chi trả dưới tên gọi tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản (LCR). LCR gồm 2 thành phần: tài sản nợ đến hạn thanh toán trong 30 ngày (Net cash outflows over a 30-day time period) và tài sản có thanh khoản cao (Stock of High –Quality Liquidity Assets) và được cụ thể hóa bằng công thức sau: Tổng tài sản có tính thanh khoản cao LCR = ≥ 100% Tổng tài sản nợ đến hạn thanh toán trong 30 ngày Tài sản có thanh khoản cao được chia thành 02 mức: mức 1 và mức 2. Trong đó mức 2 được chia thành 02 mức: mức 2A và 2B. Theo đó, tỷ lệ xác định luồng tiền mức 1 là 100% và thường chiếm tỷ trọng lớn hơn hoặc bằng 60% tổng tài sản có thanh khoản cao; tỷ lệ xác định luồng tiền mức 2A là 85%, mức 2B là 75% và 50% tùy theo nhóm tài sản, và tổng giá trị luồng tiền mức 2A và 2B không được vượt quá 40% tổng tài sản có thanh khoản cao.
Tài sản nợ đến hạn thanh toán trong 30 ngày được xác định theo nhiều tỷ lệ khác nhau, mức xác định tỷ lệ lần lượt là 0%, - 5%, 10%, 15%, 20%, 25%, 40%, 50% và 100% tùy vào độ rủi ro của tài sản. 13 Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn: Trong quy định Basel III của Basel Committee on Banking Supervision (2013) có đề cập đến tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn dưới tên gọi tỷ lệ nguồn vốn ổn định trung dài hạn (NSFR). Tỷ lệ này được giới thiệu vào năm 2018 với tỷ lệ dự kiến 100%, tức là nguồn vốn có thời gian đáo hạn từ 1 năm trở lên (ASF) lớn hơn hoặc bằng 100% tài sản kém thanh khoản (RSF) như các khoản cho vay trung, dài hạn. NSFR được cụ thể hóa bằng công thức sau: ASF NSFR = ≥ 100% RSF 2.
Phương pháp dựa vào các chỉ số thanh khoản Các nghiên cứu của Bunda và Desquilbet, 2008 và Ferrouhi, 2014 đều đưa ra quan điểm rằng ngân hàng có tỷ lệ tài sản thanh khoản/ tổng tài sản càng lớn, rủi ro thanh khoản càng nhỏ. Tài sản thanh khoản L1 = Tổng tài sản Một số nghiên cứu khác tiếp cận sử dụng các tỷ lệ dựa trên các báo cáo tài chính như tỷ lệ tài sản thanh khoản/Tổng dư nợ tín dụng và tỷ lệ tài sản thanh khoản/Tổng nguồn vốn huy động ngắn hạn nhằm phân tích chất lượng dự trữ thanh khoản của ngân hàng từ đó kết luận rằng nếu ngân hàng nắm giữ những tài sản thanh khoản có chất lượng càng lớn thì sẽ có cấu trúc thanh khoản cao từ đó RRTK giảm xuống và ngược lại. Tài sản thanh khoản L2 = Tổng nguồn vốn huy động ngắn hạn Tài sản thanh khoản L3 = Tổng dư nợ tín dụng Ngoài ra, các nhà nghiên cứu (Vodova, 2011; Bunda và Desquilbet, 2008; Munteanu, 2012; Ferrouhi, 2014) đề xuất phương pháp dựa vào các tỷ số thanh khoản để đánh giá năng lực cho vay của ngân hàng. Các tỷ số thanh khoản này cũng được 14 tính toán và đo lường dựa trên các khoản mục khác nhau của bảng cân đối kế toán (Cucinelli, 2013), đó là các tỷ số thanh khoản dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm trước đây.
Tỷ số đo lường năng lực cho vay: tỷ số này càng thấp thì thanh khoản của ngân hàng càng tăng và ngược lại Dư nợ tín dụng L4 = Tổng tài sản Tỷ số Dư nợ tín dụng/ Tổng nguồn vốn huy động: tỷ số này càng thấp thì thanh khoản của ngân hàng càng tăng và ngược lại. Dư nợ tín dụng L5 = Tiền gửi khách hàng + Nguồn trả nợ ngắn hạn Rủi ro thanh khoản chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro khác như rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, … Arif và Nauman Anees, 2012 cho rằng trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, đa phần các tài sản sẽ được tài trợ bởi các khoản tiền gửi vãng lai mà nó có thể bị rút ra khỏi ngân hàng bất kỳ lúc nào do đó tạo ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng. Nghiên cứu của Poorman và Blake (2005) chỉ ra rằng: “Chỉ sử dụng các tỷ số thanh khoản để đo lường rủi ro thanh khoản là chưa đủ và đó chưa thể là một giải pháp”. Theo Saunders và Cornett (2006) đề xuất sử dụng khái niệm khe hở tài trợ (Financing Gap) để đo lường rủi ro thanh khoản.
Trong đề tài này, tác giả kết hợp sử dụng tỷ lệ khe hở tài trợ được các nhà nghiên cứu trước sử dụng (Bunda và Desquilbet, 2008; Lucchetta 2007; Saunders và Cornett, 2006; Ferrouhi, 2014) và các chỉ số về thanh khoản để đo lường RRTK trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.