CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 5.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 7 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề OĐTC của hệ thống ngân hàng. Baselga- Pascual và cộng sự (2013) đã thực hiện nghiên cứu sự tác động của một số biến thuộc nội tại ngân hàng và biến vĩ mô đến rủi ro của ngân hàng dựa trên phương pháp hồi quy dữ liệu bảng dựa trên dữ liệu các NHTM trong khu vực EU từ 2001-2012.
Tác giả đã kết luận được vốn chủ sở hữu, lợi nhuận, hiệu quả và tính thanh khoản có tác động ngược chiều với rủi ro ngân hàng hay tác động cùng chiều với sự OĐTC. Bên cạnh đó, thị trường ít cạnh tranh, lãi suất thấp hơn, tỷ lệ lạm phát cao hơn và một bối cảnh khủng hoảng kinh tế, khi GDP giảm thì sẽ làm tăng rủi ro, tức làm giảm sự OĐTC của ngân hàng. Ozili (2018) đã tiến hành nghiên cứu các ngân hàng ở khu vực Châu Phi. Bằng mô hình hồi quy ước lượng theo phương pháp OLS, bài nghiên cứu đã kết luận được rằng quy mô ngân hàng, tài sản, hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tỷ lệ vốn pháp định, tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ, chính trị ổn định là những yếu tố tác động mạnh đến sự OĐTC của ngân hàng khu vực này.
Shahriar và cộng sự (2022) nghiên cứu các ngân hàng ở 12 quốc gia khu vực Tây Á bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng hiệu ứng cố định được sử dụng trên dữ liệu từ 2004-2018. Kết quả cho thấy rằng lợi nhuận ngân hàng, tỷ lệ thu nhập lãi thuần, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi, tỷ lệ dư nợ trên tài sản tỷ lệ thuận với sự OĐTC. Còn tỷ lệ đòn bẩy và nợ dài hạn tỷ lệ nghịch với sự OĐTC. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ cạnh tranh, hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tài chính toàn diện có mối quan hệ đồng biến với sự OĐTC.
Trong khi đó, sự phát triển tài chính được đo bằng vốn hóa thị trường chứng khoán đang tác động tiêu cực đến mức độ ổn định của ngân hàng. 8 Ejime Herbert Aniemeke (2024) xem xét các yếu tố quyết định sự OĐTC của ngân hàng ở Nigeria trong giai đoạn 2000 đến 2021 bằng cách sử dụng chỉ số Z-score với phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu thông thường. Nghiên cứu kết luận rằng tỷ lệ vốn pháp định, tỷ lệ chi phí trên thu nhập, nợ xấu và tín dụng tư nhân trong nước tác động tiêu cực với sự OĐTC, trong khi trong khi tỷ lệ cho vay trên tiền gửi và tập trung ngân hàng là những yếu tố tích cực quyết định sự ổn định của ngân hàng ở Nigeria. Tại Việt Nam, cũng đã có nhiều bài nghiên cứu liên quan đến sự OĐTC, tính bền vững hay rủi ro vỡ nợ của ngân hàng.
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Bá Hướng (2016) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro phá sản của bằng phương pháp Z-score trên dữ liệu 23 NHTM Việt Nam từ 2009-2013 với phân tích định lượng hồi quy dữ liệu bảng. Kết quả cho thấy các yếu tố như: Tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ thu nhập lãi thuần, tỷ lệ dự phòng nợ xấu, vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, đa dạng hóa thu nhập, số năm hoạt động của ngân hàng, sở hữu nhà nước, ngân hàng đã niêm yết có mối quan hệ ngược chiều với rủi ro phá sản ngân hàng, tức cùng chiều với sự OĐTC. Các yếu tố quy mô ngân hàng và hiệu quả quản lý chi phí có tác động cùng chiều với rủi ro phá sản. Với bộ dữ liệu 19 NHTM Việt Nam giai đoạn 2014–2018, Lê Ngọc Quỳnh Anh và cộng sự (2020) đã thực hiện mô hình hồi quy dữ liệu bảng và đã đưa ra kết luận rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản, quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi tác động cùng chiều với sự OĐTC của các ngân hàng.
Trong khi đó, tỷ lệ thu nhập lãi thuần lại có tác động ngược chiều. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ thu thập dữ liệu trong một giai đoạn ngắn, chưa thể hiện được sự ảnh hưởng bởi sự thay đổi của các biến cũng như chưa quan tâm đến các yếu tố vĩ mô tác động đến sự OĐTC của ngân hàng. Lê Thông Tiến và cộng sự (2022) nghiên cứu dữ liệu của 21 NHTM Viêt Nam từ 2012-2020 bằng cách sử dụng đồng thời ba phương pháp ước lượng bao gồm mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random-effect), mô hình hiệu ứng cố định (Fixed-effect), và mô hình sai số chuẩn hiệu chỉnh (PCSE). Kết quả nghiên cứu là biến quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu có tác động tích cực đến 9 biến Z-score và biến tỷ lệ nợ xấu có tác động ngược chiều.
Bài nghiên cứu còn nhận xét tác động của lạm phát đến sự OĐTC thông qua tác động tương tác với rủi ro tín dụng. Tác giả nhận xét, lạm phát có tác động tích cực do trong giai đoạn nghiên cứu lạm phát ở Việt Nam đều ở mức thấp. v So sánh các nghiên cứu quốc về và Việt Nam về sự OĐTC: - Điểm tương đồng: + Mục tiêu nghiên cứu: Đều nhằm mục đích đánh giá chiều hướng và mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng và cải thiện sự OĐTC, đặc biệt là trong bối cảnh của các biến động kinh tế và khủng hoảng tài chính. + Các yếu tố ảnh hưởng: Cả nghiên cứu trong nước và quốc tế đều xem xét các yếu tố như các yếu tố nội tại hệ thống ngân hàng và yếu tố kinh tế vĩ mô như: chính sách tiền tệ, tốc độ phát triển kinh tế, lạm phát,… để đánh giá ảnh hưởng đến OĐTC.
- Điểm khác biệt: + Phạm vi và quy mô: Nghiên cứu quốc tế thường có phạm vi rộng lớn hơn, bao gồm nhiều quốc gia và khu vực, trong khi nghiên cứu trong nước tập trung vào đặc điểm và điều kiện cụ thể của Việt Nam. + Phương pháp luận: Nghiên cứu quốc tế thường sử dụng các phương pháp phân tích đa dạng và phức tạp hơn, trong khi nghiên cứu trong nước có thể tập trung vào các phương pháp cụ thể phù hợp với dữ liệu và nguồn lực có sẵn. + Chủ đề cụ thể: Nghiên cứu trong nước có thể tập trung vào các vấn đề cụ thể như tốc độ phát triển kinh tế, lạm phát của riêng Việt Nam đến OĐTC, trong khi nghiên cứu quốc tế có thể bao gồm các chủ đề rộng lớn hơn như di chuyển vốn quốc tế và ổn định hệ thống tài chính,… Cả hai loại nghiên cứu đều quan trọng và có thể hỗ trợ lẫn nhau trong việc phát triển các chính sách và chiến lược nhằm cải thiện OĐTC. Tuy nhiên, việc áp dụng các kết quả nghiên cứu quốc tế vào bối cảnh cụ thể của Việt Nam cần được thực hiện một cách cẩn trọng để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.
10 So sánh với những công trình nghiên cứu trước, nghiên cứu của học viên có điểm khác biệt là không chỉ đánh giá, phân tích các biến đặc trưng về tài chính mà còn bổ sung thêm các biến đặc điểm của ngân hàng ảnh hưởng như thế nào đến sự OĐTC của ngân hàng ở Việt Nam. Từ đó, tìm kiếm mối quan hệ tác động cùng chiều hay ngược chiều của các biến này sự OĐTC của ngân hàng suốt giai đoạn nghiên cứu. Trong bài nghiên cứu, học viên lựa chọn một số biến nội tại ngân hàng và một số biến vĩ mô để phân tích tác động đến sự OĐTC ngân hàng, sử dụng phương pháp mới là phân tích Bayes để tìm ra sự tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc đại diện cho sự OĐTC của ngân hàng là Z-score. Bên cạnh đó, để phù hợp với thực tế hoạt động của NHTM Việt Nam hiện nay, dữ liệu nghiên cứu được học viên cập nhật mới hơn so với dữ liệu của các tác giả trước, cụ thể là trong giai đoạn từ 2011-2022.
Khoảng trống nghiên cứu Đề tài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự OĐTC của NHTM không phải là đề tài mới nhưng đây vẫn là đề tài quan trọng cần được tìm hiểu và nghiên cứu trong những bối cảnh và giai đoạn khác nhau. Tổng quan về các nghiên cứu trước đây về đề tài này với những nguồn dữ liệu không gian và thời gian khác nhau cùng với sự đa dạng về phương pháp thực hiện dẫn đến sự khác biệt về kết quả chiều hướng và mức độ tác động của các nhân tố đến sự OĐTC. Do đó, việc thực hiện cùng đề tài nhưng với bối cảnh thực tế Việt Nam hiện nay và số liệu được cập nhật mới nhất là điều cần thiết. Các nghiên cứu trên thế giới về sự OĐTC như nghiên cứu của Baselga- Pascual và cộng sự (2013), Ozili (2018), Abduallah Alfadli (2023), Ejime Herbert Aniemeke (2024), …chỉ nghiên cứu ở những quốc gia, khu vực ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Đối với các nghiên cứu về bộ dữ liệu ở Việt Nam như nghiên cứu của Lê Ngọc Quỳnh Anh và cộng sự (2020), Nguyễn Thị Như Quỳnh (2020), đều sử dụng dữ liệu cũ đến năm 2019, nghiên cứu của Lê Thông Tiến và cộng sự (2022) chỉ sử dụng dữ liệu đến năm 2020. Thực tế, học viên nhận thấy việc nghiên cứu về bộ dữ liệu của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011-2022 là cần thiết. Bởi lẽ, sau giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, các NHTM Việt Nam còn phải xử lý nhiều hệ lụy từ khủng hoảng 11 để có thể phục hồi và tăng trưởng trở lại. Bên cạnh đó, năm 2011 có mức lạm phát cao phi mã, chạm mốc 18,58% và là mức cao nhất trong vòng 11 năm kể từ 2011 đến 2022, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngành ngân hàng.
Đến năm 2020-2011, đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh mẽ làm cho toàn bộ nền kinh tế lao đao, trì trệ. Giai đoạn này, các hoạt động sản xuất kinh doanh gần như tê liệt. Sau đó là xung đột giữa Nga và Ukraine làm giá hàng hóa tăng cao, cũng gây nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Việt Nam. Do đó, học viên nhận thấy cần có một nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự OĐTC của các NHTM Việt Nam với dữ liệu nội bộ ngân hàng được cập nhật mới nhất đồng thời cũng phải có những thông tin về biến vĩ mô để thể hiện được hết sự tác động của kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn.