Đặt vấn đề; Tính cấp thiết của đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Bố cục của đề tài. Trong đó, các chương được sắp xếp theo bố cục nhằm trả lời các câu hỏi sau: - Mức độ tác động của thu nhập ngoài lãi đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam như thế nào? - Cần làm gì để nâng cao HQHĐ của NHTM Việt Nam thông qua tác động của thu nhập ngoài lãi? Sử dụng mô hình nghiên cứu Pooled OLS, FEM và REM để có thể đánh giá tác động của thu nhập ngoài lãi đến HQHĐ của NHTM cũng như đưa ra những đề xuất phù hợp dưới góc nhìn của tác giả. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN 2. Khung lý thuyết Tác giả đưa ra khung lý thuyết như sau: Bảng 2.1: Khung lý thuyết Lý thuyết Nội dung được đề cập Nghiên cứu trước đây Atony, Ludger và Vito (2006), Farrell (1957); Chang và ctg.
(2014) Cách đo lường HQHĐ Choudhry, M. (2018) Lý thuyết về thu Định nghĩa về thu nhập Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010) nhập lãi thuần lãi thuần Chronopoulos và cộng sự (2011), Định nghĩa về thu nhập Elyasiani và Wang (2012), Hồ Thị Hồng ngoài lãi Minh và Nguyễn Thị Cành (2015), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) Chiorazzo và ctg. (2008); Busch và Kick (2009); Lozano-Vivas và Pasiouras Tác động của thu nhập (2010); Gamra và Plihon (2011); Meslier Lý thuyết về thu ngoài lãi đến HQHĐ của và cộng sự (2014); Lê Long Hậu và Phạm nhập ngoài lãi NHTM Xuân Quỳnh (2016); Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015); Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) Chiorazzo và cộng sự (2008), Elsas và Cách đo lường thu nhập cộng sự (2010), Hồ Thị Hồng Minh và ngoài lãi Nguyễn Thị Cành (2015), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) Nguồn: Tổng hợp của tác giả 9 2. Hiệu quả hoạt động của NHTM 2.
Khái niệm Theo Farrell (1957), hiệu quả thể hiện sự tương quan giữa các biến đầu ra thu được so với các biến đầu vào, biến đã được sử dụng để tạo ra những đầu ra đó. Trong đó, hiệu quả chi phí hay hiệu quả kinh tế bao gồm hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Hiệu quả kỹ thuật là chỉ số thể hiện khả năng sản xuất tối đa của đơn vị với đầu vào được cho trước, còn hiệu quả phân bổ được dùng để phản ánh khả năng tối ưu hoá các yếu tố đầu vào khi đã biết giá cả của chúng. Do vậy, hiệu quả còn có thể nói cách khác là những lợi ích mang lại từ các hoạt động cụ thể dưới hình thức tối ưu hoá đầu vào và tối đa hoá đầu ra.
Theo quan điểm được nêu trong các bài nghiên cứu của Elyasiani và Mehdian (1990a, 1990b) và Mester (1987), đầu ra trong hoạt động của NHTM dưới vai trò trung gian tài chính là tài sản của các NH, trong khi các khoản tiền gửi, lao động và vốn là yếu tố đầu vào. Điều quan trọng nhất trong cơ cấu lợi nhuận của NH là thu nhập lãi, và phụ thuộc vào nghiệp vụ cấp tín dụng (cụ thể là cho vay). Do đó, phát triển tín dụng là rất quan trọng đối với các NH. Trong đó, vốn cho vay được xem như một sản phẩm và lãi suất cho vay được xem như giá của khoản tín dụng đó.
Theo Atony, Ludger và Vito (2006), hiệu quả được xem như phép so sánh giữa đầu vào và đầu ra hay giữa lợi nhuận và chi phí. Với cùng mức đầu vào được xác định, hoạt động tạo đầu ra nhiều hơn sẽ là hoạt động hiệu quả hơn”. Hiệu quả được xem là mức độ đạt được mà các doanh nghiệp hoặc các NH hoàn thành việc thực hiện phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu được đề ra (Nguyễn Khắc Minh, 2004). Có thể hiểu, HQHĐ của một NHTM như là khả năng tạo ra lợi nhuận của NHTM đó trong điều điện hạn chế rủi ro và mọi hoạt động của NH vẫn đúng theo mục tiêu đã định.
Theo Chang và cộng sự (2010) cũng nêu rằng hiểu quả cũng phản ánh khả năng quản lí, kiểm soát chi phí và sửa dụng nguồn lực để tạo đầu ra. NHTM là một định chế tài chính trung gian đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, luôn luôn có hoạt động điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu (Peter, S., 2014), nhưng nếu nhìn dưới góc độ là một doanh nghiệp thì hoạt 10 động kinh doanh phải luôn có sự kết hợp giữa hai yếu tố là tối đa hoá lợi nhuận nhưng trong mức rủi ro cho phép - mức rủi ro NHTM có thể chấp nhận được. Dựa vào những khái niệm trên, có thể kết luận HQHĐ của NHTM là tập hợp của nhiều yếu tố tạo thành như nguồn lực tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất và các yếu tố khác trong quá trình hoạt động của NH. Trong bối cảnh hội nhập như hiện nay, việc tập trung vào HQHĐ là cấp thiết và tất yếu của mỗi NH, góp phần tạo ra giá trị nội tại của từng NH trong nền kinh tế thị trường luôn biến động.
Tóm lại, khái niệm về HQHĐ rất đa dạng, tùy theo mục tiêu khác nhau sẽ phân tích theo những khía cạnh khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của bài luận văn này, khái niệm HQHĐ được tác giả sử dụng là hiệu quả kinh tế, thể hiện mối quan hệ giữa kết quả kinh tế đạt được và chi phí bỏ ra hay chính là khả năng biến các đầu vào thành các đầu ra trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động Có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa cũng như cách ước lượng về HQHĐ của NHTM. Trong đó, công cụ được sử dụng phổ biến nhất trong đánh giá, phân tích và phản ánh hiệu quả hoạt động của các NHTM là các hệ số tài chính.
Có nhiều loại hệ số tài chính được sử dụng để đánh giá các khía cạnh hoạt động khác nhau của một NH, các hệ số tài chính này bao gồm các tỷ số phản ánh khả năng sinh lợi, các tỷ số phản ánh hiệu quả hoạt động và các tỷ số phản ánh rủi ro tài chính của một NH. Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam, tác giả chọn phân tích các tỷ số phản ánh khả năng sinh lời để đánh giá HQHĐ của các NHTM. Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới xem xét về các nhân tố phản ánh HQHĐ của NH như Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015); Trujillo-Ponce (2013); Chiorazzo và cộng sự (2008); Nepali, S. (2018); Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017), Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Thùy Trang (2018) đều sử dụng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên tổng VCSH (ROE) để phản ánh tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) ROA cho biết lợi nhuận ròng NH đạt được từ một đồng đầu tư và tổng tài sản, dùng để đo lường HQHĐ kinh doanh mà NH đang quản lý đầu tư vào tài sản và sử dụng chúng để tạo ra lợi nhuận. (2018), ROA được tính như sau: Lợi nhuận sau thuế ROA = x 100 (%) Tổng tài sản bình quân ROA được sử dụng rộng rãi trong phân tích HQHĐ và đánh giá tình hình tài chính của NH, nếu ROA cao cho thấy NH hoạt động hiệu quả, NH có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế. Ngược lại, ROA thấp sẽ đánh giá HQHĐ của NH kém (có thể là do chính sách đầu tư hoặc cho vay thiếu tính hợp lý, chi phí hoạt động của NH vượt ngưỡng). Ngoài ra, ROA còn thể hiện tính hiệu quả quản lý của NH, cho thấy khả năng chuyển tài sản Có của NH thành thu nhập ròng.
Bên cạnh đó, chính sách pháp luật, các loại lãi suất cũng như sự cạnh tranh dẫn đến sự khác biệt trong ROA. Các ngành khác nhau sẽ có chỉ số ROA khác nhau mặc dù ở cùng thời điểm, tương tự, cùng ngành nhưng khác thời điểm thì ROA cũng thay đổi. Theo đánh giá của tổ chức Moody’s, đối với ngành NH, chỉ số ROA ổn định rơi vào khoảng trên 1%. Hiệu quả của việc sử dụng vốn thể hiện qua ROA, do đó, ROA càng cao thể hiện NH đó sử dụng tốt nguồn vốn của mình tạo ra lợi nhuận trên nguồn đầu tư, tuy nhiên cần xem xét lại các hoạt động của NH nếu ROA vượt khỏi ngưỡng ổn định.
Tỷ suất sinh lời trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE) ROE phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu vào NH đem lại cho chủ sở hữu bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ số này cho biết cứ 100 đồng VCSH của NHTM tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. (2018), ROE được tính như sau: Lợi nhuận sau thuế ROE = x 100 (%) Vốn chủ sở hữu bình quân Đây là chỉ tiêu nói lên việc sử dụng hiệu quả vốn của cổ đông, nghĩa là NH có sử dụng triệt để giữa vốn huy động và vốn cổ đông để tối ưu hóa lợi thế cạnh tranh 12 hay không. ROE cũng là chỉ tiêu để nhà đầu tư dựa vào đó để quyết định mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
ROE cho biết thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào NH (nghĩa là chấp nhận rủi ro để kỳ vọng đạt được thu nhập ở mức hợp lý). Chỉ tiêu này cũng được sử dụng khá phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động nhằm phản ánh hiệu quả sử dụng VCSH. Nếu tỷ số này mang giá trị dương, NH kinh doanh hoạt động có lãi. Nếu mang giá trị âm là NH kinh doanh thua lỗ.
Đồng thời, ROE càng cao chứng tỏ NH cân đối trong việc sử dụng vốn cổ đông so với đồng vốn đi vay của mình một cách hiệu quả để tạo ra lợi nhuận trong quá trình hoạt động. Giống như chỉ tiêu ROA, ROE của từng ngành khác nhau sẽ khác nhau. Tổ chức Moody’s cho rằng ROE của NH lớn hơn 15% thể hiện NH đó đã hoạt động tạo ra lợi nhuận. Thấp hơn quá nhiều hoặc vượt mức quá nhiều nên xem xét lại quá trình hoạt động.
Ngoài ra, trong đánh giá HQHĐ của ngân hàng, các nhà quản trị NH còn xem xét mỗi quan hệ giữa ROA và ROE vì trên thực tế hai chỉ tiêu này phản ảnh sự đánh đổi cơ bản giữa rủi ro và thu nhập.