chương 1, tác giả giới thiệu khái quát và trình bày những nội dung cơ bản như lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới thiệu phương pháp nghiên cứu và số liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu. Ngoài ra, ở chương này tác giả đã trình bày bố cục bài nghiên cứu nhằm giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về đề tài. Từ những vấn đề này giúp tác giả có định hướng trong việc thực hiện nội dung của các chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm về sự ổn định tài chính Theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu “ổn định tài chính được định nghĩa là tình trạng mà hệ thống tài chính có thể chống chọi với những cú sốc trong việc mất cân bằng tài chính, không làm cản trở việc phân bổ tiết kiệm cho các cơ hội đầu tư và xử lý thanh toán trong nền kinh tế. Ngân hàng Trung ương Châu Âu cho rằng, ổn định tài chính đề cập đến sự vận hành trơn tru của các yếu tố chính tạo nên hệ thống tài chính.” Theo Ngân hàng thế giới (World Bank, 2016) cho rằng “có rất nhiều định nghĩa về ổn định tài chính, nhưng hầu hết đều có điểm chung liên quan đến khả năng phục hồi của hệ thống tài chính trước những căng thẳng. Một hệ thống tài chính ổn định phải có khả năng phân bổ nguồn lực hiệu quả, có khả năng đánh giá và quản lý rủi ro tài chính. Hệ thống tài chính ổn định là khi nó tự loại bỏ được sự mất cân bằng tài chính phát sinh từ bên trong hay do các sự kiện bất lợi mà không lường trước được.” Theo Cục Dữ trữ Liên bang (2018) cho rằng “ổn định tài chính là xây dựng một hệ thống tài chính có thể hoạt động cả trong thời điểm tốt và xấu.
Bên cạnh đó có thể hấp thụ tất cả những điều tốt và xấu xảy ra trong nền kinh tế bất cứ lúc nào. Ổn định tài chính không phải là việc ngăn chặn thất bại hay ngăn chặn mọi người hoặc doanh nghiệp kiếm tiền hoặc mất tiền mà ổn định tài chính chỉ giúp tạo điều kiện để hệ thống tiếp tục hoạt động hiệu quả ngay khi đối mặt với những vấn đề như vậy.” Theo Ngân hàng Anh (2022) “sự ổn định tài chính nghe có vẻ khó hiểu nhưng đó chỉ là một cách mô tả hệ thống tài chính khi nó hoàn thành các vai trò cơ bản của mình. Với một hệ thống tài chính ổn định, bánh xe của nền kinh tế sẽ tiếp tục quay, ngay cả khi điều kiện trở nên khó khăn.” Theo Ngân hàng Trung ương Malaysia “ổn định tài chính là mô tả điều kiện mà trong đó quá trình trung gian tài chính hoạt động suôn sẻ và có sự tin tưởng vào hoạt động của các tổ chức và thị trường tài chính quan trọng trong nền kinh tế.” Theo Ngân hàng Trung ương Sri Lanka (2018) “cho thấy sự ổn định của hệ thống tài chính có thể được định nghĩa là khả năng hệ thống tài chính thực hiện trơn 7 tru các chức năng chính của nó như trung gian các quỹ tài chính, quản lý rủi ro và giải quyết thanh toán một cách hiệu quả vào bất kì lúc nào, kể qua trong trường hợp có những cú sốc bất lợi và căng thẳng. Một hệ thống tài chính ổn định là một hệ thống trong đó các tổ chức tài chính, thị trường tài chính vả hệ thống thanh toán hoạt động hiệu quả và không có khủng hoảng ngân hàng, tiền tệ và thanh toán.” Theo như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể thấy dù hiện nay thuật ngữ ổn định tài chính chưa có có định nghĩa chính thức nào, tuy nhiên có thể hiểu ổn định tài chính như sau: “Thứ nhất, các yếu tố chính của hệ thống tài chính (thị trường tài chính, các định chế tài chính, hạ tầng tài chính) thực hiện các chức năng của nó “thông suốt” góp phần phân bổ có hiệu quả nguồn lực của nền kinh tế.
Thứ hai, rủi ro cấp độ hệ thống cần được đánh giá chính xác và quản lý hiệu quả để tránh khả năng sụp đổ hệ thống tài chính. Thứ ba, để đảm bảo mục tiêu duy trì ổn định của cả hệ thống tài chính đòi hỏi phải có sự phối hợp của các cơ quan Nhà nước trong hệ thống giám sát tài chính quốc gia; và trong phần lớn các mô hình tổ chức hệ thống giám sát tài chính, NHTW là cơ quan có chức năng chủ đạo trong việc thực hiện chức năng ổn định tài chính. Schinasi (2004) cho rằng “một hệ thống tài chính ở mức ổn định là bất cứ khi nào cũng có khả năng tạo điều kiện thuận lợi chứ không làm cản trở hoạt động của nên kinh tế và làm giảm sự mất cân bằng tài chính phát sinh từ nội sinh hoặc do các sự kiện bất lợi và không lường trước được.” Từ những định nghĩa về “ổn định tài chính” của các NHTW và các tác giả khác, có thể thấy ổn định tài chính có thể hiểu là một hệ thống tài chính có khả năng thực hiện các chức năng của mình ngay cả khi ở điều kiện không tốt. Là một hệ thống có khả năng hấp thụ được các cú sốc không thể lường trước kể cả bên trong hay đến từ bên ngoài nền kinh tế.
Vai trò của ổn định tài chính với nền kinh tế và ngân hàng 2. Vai trò của ổn định tài chính với nền kinh tế Theo Ngân hàng Trung ương Malaysia “hệ thống tài chính đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Nó cho phép quá trình trung gian tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho dòng vốn giữa người tiết kiệm và người đi vay, do đó đảm bảo rằng các nguồn tài chính được phân bổ hiệu quả nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.” Theo Ngân hàng Trung ương Thái Lan “sự ổn định tài chính hoặc hệ thống tài chính lành mạnh sẽ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp dịch vụ liên tục và suôn sẻ, đây là nền tảng cho sự thịnh vượng kinh tế ở Thái Lan.” Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “ổn định tài chính không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định giá cả mà còn góp phần phát triển kinh tế bền vững thực hiện hiệu quả các chức năng trung gian tài chính, tạo ra môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư, phân phối nguồn lực để phát triển một hệ thống tài chính lành mạnh để hệ thống có khả năng hấp thụ những cú sốc hay rủi ro hệ thống. Sự ổn định tài chính là điều quan trọng cho tăng trưởng kinh tế vì hầu hết các giao dịch trong nền kinh tế đều được thực hiện thông qua hệ thống tài chính.
Vai trò của ổn định tài chính với ngân hàng. Một hệ thống tài chính lành mạnh là trong đó các trung gian tài chính có thể thực hiện chức năng của mình một cách trơn tru, suôn sẻ tạo điều kiện để nguồn vốn được phân bổ một cách tốt nhất nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế. Các NHTM cũng là một trong những trung gian tài chính có vai trò quan trọng trong quá trình tạo tiền của nền kinh tế thông qua các dịch vụ như cho vay khách hàng, tiền gửi khách hàng, đầu tư,.Các NHTM cần duy trì một hệ thống tài chính ổn định để có đủ khả năng cung cấp các khoản vay cho khách hàng cũng như có đủ lãi suất để cạnh tranh trong việc huy động tiền gửi và có khả năng chi trả tiền gửi khi cần thiết, tránh để mất tính thanh khoản của ngân hàng. Vì thế, có thể thấy ổn định tài chính có vai trò quan trọng đối với các NHTM vì nó sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
9 Theo Ngân hàng thế giới (World Bank, 2016) “giá trị của sự ổn định tài chính được minh họa rõ nhất trong những thời kỳ bất ổn tài chính. Trong giai đoạn này, các ngân hàng sẽ không muốn tài trợ cho các dự án có lợi nhuận hay giá tài sản chênh lệch quá mức so với giá trị nội tại của chúng, các khoản thanh toán có thể không đến đúng hạn. Nếu sự bất ổn qua lớn có thể dẫn đến việc rút tiền hàng loạt, siêu lạm phát hoặc sụp đổ thị trường chứng khoán. Có thể làm lung lay nghiêm trọng niềm tin vào hệ thống tài chính và kinh tế.” Ổn định tài chính có thể giúp các NHTM có khả năng hấp thụ được những cú sốc bất ngờ và duy trì hoạt động kinh doanh ngay cả khi điều kiện trở nên khó khăn.
Đo lường ổn định tài chính Dựa theo nghiên cứu của Edward Altman (1968) công thức Z-score được phát triển bởi nhằm đo lường khả năng vỡ nợ của các doanh nghiệp, chỉ số Z-score càng cao thì khả năng chịu đựng vỡ nợ càng cao, xác suất phá sản càng thấp. Chỉ số Z- score được đánh giá hiệu quả dùng để đo lường mức độ ổn định ngân hàng được sử dụng trong nhiều nghiên cứu của các tác giả như Boyd và Graham (1986), Hannan và Hanweck (1988), Thuy Tu Pham và cộng sự (2021), Huỳnh Nhật Thanh (2021). Chỉ số Z-core được tính theo công thức sau: 𝐸 𝑅𝑂𝐴+ 𝐿𝑛(𝑍 − 𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒) = 𝐿𝑛( 𝐴 ) (2.1) 𝜎(𝑅𝑂𝐴) Trong đó: ROA là tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân. 𝐸 là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản.
𝐴 𝜎(𝑅𝑂𝐴) là độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định của NHTM Việt Nam. Các nhân tố vi mô Quy mô ngân hàng (SIZE) Biến quy mô ngân hàng là biến được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về sự ổn định tài chính của ngân hàng. Biến SIZE được tác giả đo lường bằng cách sử dụng logarit tự nhiên của tổng tài sản của ngân hàng.
Theo kết quả nghiên cứu của 10 Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Bá Hướng (2016), Fu và cộng sự (2014), Vũ Ngọc Hoài Chân (2016) và Huỳnh Nhật Thanh (2021) cho thấy SIZE có tác động tích cực với sự ổn định tài chính. Bên cạnh đó bài nghiên cứu của Ozili (2018) và có kết quả nghiên cứu cho rằng SIZE có tác động tiêu cực với sự ổn định tài chính của ngân hàng. Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROE được coi là khả năng sinh lời của ngân hàng, được đo lường bằng lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng cho thấy lợi nhuận của cổ đông sau lợi nhuận đã trừ thuế. Bài nghiên của Vũ Ngọc Hoài Chân (2016) đã chỉ ra “mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và Z-score”.