CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan nghiên cứu về tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại 1. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Trong những năm gần đây đã có nhiều học giả nghiên cứu về tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) đối với hiệu quả hoạt động (HQHĐ) của các ngân hàng. Theo lý thuyết, các dịch vụ này đem lại cho các ngân hàng lợi nhuận cao hơn với chi phí thấp hơn.
Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng kết quả có thể khác nhau tùy vào quốc gia, đặc biệt là khi xét đến tác động của NHĐT đến lợi nhuận của ngân hàng. DeYoung & cộng sự (2007); Tunay & cộng sự (2015), Al-Smadi & Al- Wabel (2011); Akhisar & cộng sự (2015), Algusain & cộng sự (2015) đã chứng minh rằng việc sử dụng NHĐT có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của các ngân hàng tại Châu Âu và Hoa Kỳ sau một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, Malhotra & Singh (2009); Al-Smadi & Al-Wabel (2011); Siddik & cộng sự (2016) đã cho thấy dịch vụ NHĐT không ảnh hưởng đến HQHĐ của các ngân hàng Jordan, Bangladesh và Ấn Độ. DeYoung & cộng sự (2007) nghiên cứu 424 ngân hàng địa phương Hoa Kỳ để theo dõi sự thay đổi trong hoạt động tài chính của họ trong giai đoạn 1999 - 2001.
Mô hình sử dụng biến giả Internet banking = 1 để phản ánh cung ứng dịch vụ NHĐT. Kết quả là việc áp dụng Internet đã cải thiện lợi nhuận của ngân hàng địa phương, chủ yếu thông qua việc tăng doanh thu từ phí dịch vụ tiền gửi. Tunay & cộng sự (2015) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa ngân hàng trực tuyến (Internet Banking) và HQHĐ của các ngân hàng tại Châu Âu bằng các kiểm định dữ liệu bảng - phân tích nhân quả. ROA và ROE được sử dụng làm biến phụ thuộc để đo lường HQHĐ của ngân hàng.
Nghiên cứu thực hiện cho toàn bộ 30 quốc gia châu Âu và tiếp tục chia các quốc gia thành 2 mẫu con để kiểm tra: mẫu 1 5 bao gồm các quốc gia Khu vực đồng tiền chung Euro, mẫu 2 xét đến các quốc gia còn lại. Kết quả cho thấy khi xem xét toàn bộ mẫu, dịch vụ NHĐT có tác động tích cực đến HQHĐ của ngân hàng. Đối với 2 mẫu con, có mối quan hệ chặt chẽ giữa ngân hàng trực tuyến đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại các nước Khu vực đồng Euro, trong khi đó không xác định được quan hệ tương quan một chiều đối với các quốc gia châu Âu còn lại. Akhisar & cộng sự (2015) đã nghiên cứu tác động của dịch vụ NHĐT đến hiệu suất sinh lời của ngân hàng.
Nhóm tác giả dùng phương pháp dữ liệu bảng động để phân tích ảnh hưởng của hiệu suất ROA và ROE của các ngân hàng tại 23 quốc gia trong giai đoạn 2005-2013. Kết quả là lợi nhuận của ngân hàng ở các nước phụ thuộc vào tỷ lệ số máy ATM/Chi nhánh ngân hàng. Dịch vụ NHĐT có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất của ngân hàng. Tuy nhiên, số lượng máy POS và số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ Internet Banking lại có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận do các quốc gia có sự khác biệt về cơ sở hạ tầng hệ thống NHĐT và đặc điểm văn hoá xã hội cũng như hành vi khách hàng.
Al-Smadi & Al-Wabel (2011); Alghsain & cộng sự (2015) đã nghiên cứu về sự phát triển của NHĐT tại Jordan trong hai thời điểm khác nhau, hai nghiên cứu cho thấy kết quả có sự tương phản. Al-Smadi & Al-Wabel (2011) nghiên cứu trong giai đoạn 2000-2010 với phạm vi 15 NHTM cho thấy cho thấy kết quả là NHĐT có tác động tiêu cực đáng kể đến hiệu suất của các ngân hàng. Ngược lại, Alghsain & cộng sự (2015) đã đánh giá tác động của dịch vụ NHĐT đến lợi nhuận của e- FAWATEERcom, một trong những NHTM lớn và thành công nhất tại Jordan đã kết luận việc sử dụng Thẻ tại ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến việc gia tăng khả năng sinh lời của ngân hàng. Siddik và cộng sự (2016) đã điều tra tác động của NHĐT đến hiệu suất của 13 ngân hàng Bangladesh trong giai đoạn 2003 – 2013, cụ thể hiệu quả hoạt động được đo bằng ROE, ROA và biên lãi ròng NIM.
Kết quả chỉ ra rằng NHĐT bắt đầu đóng góp tích cực vào lợi nhuận/vốn chủ sở hữu của ngân hàng với độ trễ thời gian là hai năm, tác động tiêu cực thể hiện ở năm đầu tiên khi áp dụng. Malhotra và Singh (2009) đã phân tích thực trạng của ngân hàng trực tuyến 6 tại Ấn Độ bằng cách sử dụng dữ liệu thu thập được từ khảo sát trên 85 website NHTM định kỳ trong suốt tháng 6/2007. Kết quả cho thấy gần 57% các NHTM Ấn Độ đang cung cấp dịch vụ ngân hàng trực tuyến giao dịch. Kết quả đa biến chỉ ra lợi nhuận và việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trực tuyến không có mối quan hệ tương quan, ngược lại ngân hàng trực tuyến có tác động tiêu cực đáng kể tới hồ sơ rủi ro của các ngân hàng.
Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam Trước năm 2015, có thể thấy rất ít bài nghiên cứu có cùng chủ đề đánh giá tác động của dịch vụ NHĐT đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Việt Nam. Dinh Van & cộng sự (2015) đã đánh giá tác động của Internet banking tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 - 2014. Các biến phụ thuộc là chỉ tiêu tài chính như ROA, ROE, chi phí hoạt động và thu nhập ngoài lãi của ngân hàng, biến giả là Internet Banking. Kết quả là Internet banking có tác động tích cực đến thu nhập ngoài lãi và góp phần vào tăng trưởng lợi nhuận của Ngân hàng với độ trễ là 3 năm và ở mức độ rất nhỏ.
Nghiên cứu cũng khẳng định chưa có mối liên hệ nào giữa Internet banking và chi phí hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu định lượng với sử dụng biến giả đối với Internet banking. Như vậy chưa thể thấy được bức tranh tổng quát về tác động của dịch vụ NHĐT đến KQHĐ vì dịch vụ NHĐT được cung cấp thông qua nhiều kênh phân phối như ATM, POS, Internet và Mobile banking với những kết quả ứng dụng khác nhau cần có những số liệu lượng hóa cụ thể và cần áp dụng thêm các phương pháp nghiên cứu định tính khác như phỏng vấn sâu chuyên gia để làm tăng tính chính xác của kết quả nghiên cứu. Đỗ Thanh Hương (2021) phân tích dữ liệu 30 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2014 - 2018 đã chỉ ra rằng dịch vụ NHĐT có ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng.
Cụ thể, các yếu tố như giá trị giao dịch qua Mobile banking và Internet Banking, số cây ATM có tác động tích cực tới ROE, ROA và NIM. Tuy nhiên, số lượng máy POS lại có tác động tiêu cực đến kết quả hoạt động của ngân hàng do sự gia tăng chi phí đầu tư, thói quen thanh toán của người dân và sự phát triển mạnh mẽ của các ứng dụng thanh toán khác trong thời gian đó. Ngoài 7 ra, các yếu tố thể hiện đặc trưng của NHTM như chi phí hoạt động, số chi nhánh, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tổng tài sản và các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế và lạm phát đều có ảnh hưởng tới kết quả hoạt động của các NHTM. Ở giai đoạn 2018 đến nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tài chính, thương mại điện tử và thói quen mua sắm không sử dụng tiền mặt đã thay thế các hình thức giao dịch cũ.
Các nghiên cứu trong giai đoạn này bắt đầu xuất hiện nhiều và đã cho thấy dịch vụ NHĐT có những tác động tích cực và tiêu cực nhất định đến HQHĐ của các ngân hàng Việt Nam. Đinh Thị Thu Hồng & cộng sự (2021) phân tích ảnh hưởng của tăng trưởng dịch vụ NHĐT đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam thông qua kỹ thuật ước lượng mô hình phân phối trễ ARDL hiệu ứng cố định. Để đo lường chỉ tiêu dịch vụ NHĐT, nhóm tác giả sử dụng dữ liệu về số lượng máy thanh toán ATM và máy POS/EFTPOS/EDC trên số lượng dân số trong tuổi lao động, số lượng thẻ thanh toán, số dư tài khoản thẻ thanh toán và giá trị thanh toán qua thẻ. Kết quả nghiên cứu ngược với kỳ vọng là dịch vụ NHĐT có mối quan hệ ngược chiều với HQHĐ của các NHTM.
Đặng Đăng Thư (2022) đã đánh giá tác động của thanh toán điện tử đến hiệu quả hoạt động của 28 NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian 2018-2021. Kết quả cho thấy số lượng ATM có tác động tích cực đến HQHĐ của các ngân hàng, trong khi đó tác động của máy POS và số đơn vị chấp nhận thẻ không có ý nghĩa thống kê. Khoảng trống nghiên cứu Từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia phát triển và đang phát triển, có thể thấy rằng kết quả nghiên cứu phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng dành cho công nghệ, hành vi khách hàng và thời gian áp dụng công nghệ vào lĩnh vực ngân hàng. Các học giả thường sử dụng phương pháp hồi quy để đánh giá tác động của dịch vụ NHĐT và ngân hàng trực tuyến đến HQHĐ của các ngân hàng.
ROE, ROA và NIM được sử dụng làm các biến phụ thuộc chính trong khi các biến độc lập đại diện cho dịch vụ NHĐT là Internet Banking, Mobile Banking, Website ngân hàng, số lượng máy ATM, POS, chi nhánh ngân hàng và thẻ ngân hàng… Kết quả của việc ứng dụng NHĐT tại các quốc gia có độ trễ nhất định. Ở giai 8 đoạn đầu phát triển, dịch vụ NHĐT có tác động tiêu cực đến hoạt động của ngân hàng, đặc biệt tại các quốc gia phát triển khi nền kinh tế chưa hấp thụ được hết lợi ích của công nghệ tài chính và hành vi của khách hàng vẫn còn có nhu cầu sử dụng tiền mặt lớn. Tại các quốc gia phát triển hơn, dịch vụ này đạt được sự ổn định trong tăng trưởng và mang lại hiệu quả trong hoạt động tài chính của các ngân hàng. Các nghiên cứu cho thấy tác động của NHĐT đến HQHĐ của ngân hàng có sự thay đổi tích cực và đáng kể theo thời gian.