CHƯƠNG 1 Chương 1 đã đưa ra lý do chọn đề tài, tổng quát mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn. Chương 1 cũng chỉ ra một cách tổng quát ý nghĩa nghiên cứu của luận văn, nêu lên những đóng góp về cả mặt hệ thống lý thuyết PTTHTC nói chung và thực tiễn PTTHTC tại NH Sacombank nói riêng. Nội dung được đề cập tại chương 1 là cơ sở để xây dựng nội dung cho những chương tiếp theo. 23 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.
Tổng quan về phân tích tình hình tài chính trong ngân hàng thương mại 2. Khái quát về ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng, là trung tâm chu chuyển tài chính của nền kinh tế. Có thể khái niệm ngân hàng qua chức năng, dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế, như là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, trung gian tài chính hoặc tổ chức tín dụng.Rose: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [2]. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” [9].
Như vậy, ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn về quy mô tài sản và số lượng các ngân hàng. “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [9]. Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Từ nhận định trên cho thấy ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, mà đặc trưng là cung cấp các 24 dịch vụ cho vay, nhận tiền gửi của khách hàng dưới nhiều hình thức khác nhau và một số dịch vụ thanh toán.
Chức năng của NHTM Theo [1], [2], NHTM có các chức năng chính sau: Trung gian tài chính: NHTM là một trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiền tiết kiệm thành đầu tư dưới hình thức nhận tiền gửi và cấp tín dụng. Trung gian thanh toán: khi ngân hàng nhận tiền gửi và cho vay, tất yếu dẫn đến cơ sở của thanh toán hộ. Trước tiên là thanh toán hộ giữa những khách hàng có tiền gửi ở cùng một ngân hàng, sau đó mở rộng ra khi hệ thống thanh toán liên ngân hàng hình thành. Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ theo lệnh của khách hàng.
Tạo phương tiện thanh toán: hệ thống ngân hàng tạo nên phương tiện thanh toán là tiền ghi sổ. Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán thì họ có thể chi trả để có được hàng hóa và các dịch vụ theo yêu cầu. Tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng là phương tiện thanh toán song hành cùng tiền giấy. Chức năng này của ngân hàng tạo nên một động lực mạnh mẽ cho việc kích thích tiêu dùng, sản xuất, tạo vòng quay cho đồng tiền sinh lời, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách lành mạnh.
Các hoạt động cơ bản của NHTM Theo [1], [2], [3]… các hoạt động cơ bản của NHTM bao gồm: hoạt động nhận tiền gửi, hoạt động cấp tín dụng và các hoạt động khác. Nhận tiền gửi Tiền gửi tiết kiệm của cá nhân và tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức: dựa vào chức năng của ngân hàng là nơi mà các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp gửi gắm tiền với mục đích đảm bảo an toàn cho tài sản và sinh lời, ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền. Hoạt động này rất thuận lợi, giúp khách hàng gửi tiền vào tài khoản của mình mọi lúc, mọi nơi với chi phí thấp. Ngoài ra, nhiều tiện ích chi tiêu khác được kết nối với tài khoản tiền gửi, cho phép 25 khách hàng sử dụng tiền gửi của mình một cách dễ dàng, nhanh chóng.
Bên cạnh đó, ngân hàng còn cung cấp dịch vụ giữ tiền hộ có trả lãi như là một phần chiết khấu cho khách hàng về việc sẵn sàng hy sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt để cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh. Khoản chi phí trả lãi tiền gửi là khoản chi phí lớn của ngân hàng và cũng là thu nhập của nhiều hộ gia đình. Cung cấp tài khoản giao dịch và thực hiện ủy thác: ngoài hoạt động bảo quản tiền hộ, ngân hàng còn thay mặt khách hàng thực hiện các lệnh như chi hộ, thu hộ, chuyển tiền,… Hoạt đồng này có thể thực hiện trên phạm vi cả trong nước và nước ngoài bằng cách liên kết hệ thống thanh toán của các ngân hàng và áp dụng công nghệ hiện đại. Nhờ có hoạt động này, việc thanh toán trở nên nhanh chóng, chính xác và an toàn hơn, tiết kiệm được đáng kể thời gian và chi phí cho khách hàng.
Cấp tín dụng Cho vay thương mại: cho vay thương mại là các khoản vay ngắn hạn thường có kỳ hạn dưới 12 tháng để tài trợ cho tài sản lưu động của doanh nghiệp. Ngân hàng thực hiện cho vay trực tiếp đối với các khách hàng là người bán (chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước) và người mua (mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh). Tài trợ cho dự án: hoạt động tài trợ dự án của ngân hàng chính là các khoản cho vay trung hạn và dài hạn có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Hoạt động này thường hỗ trợ doanh nghiệp vay để mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà máy, phát triển công nghệ, giao thông… Cho vay tiêu dùng: các khoản cho vay tiêu dùng thường là các khoản cho vay trung và dài hạn với mục đích hỗ trợ mua nhà, mua sắm tài sản lâu bền, chi trả học phí hoặc du lịch,… Tài trợ các hoạt động của chính phủ: Chính phủ khá quan tâm tới nguồn tiền của các NHTM bởi khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của chúng, Thông thường, Chính phủ tiếp cận các khoản cho vay của NHTM bằng cách yêu cầu các NHTM mua một lượng trái phiếu chính phủ theo tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được.
Ngược lại, NHTM cũng được hưởng 26 lợi từ hoạt động cho Chính phủ từ lãi suất trái phiếu hoặc chiết khấu tại ngân hàng trung ương. Bảo lãnh: hoạt động bảo lãnh là cam kết của ngân hàng đối với người thụ hưởng về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính nếu khách hàng của ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ như cam kết. Ngân hàng tham gia bảo lãnh các khoản tiền gửi để tăng uy tín trong mắt khách hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa, phát hành chứng khoán hay huy động vốn từ những tổ chức tín dụng khác… Cho thuê tài chính: cho thuê tài chính thường được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
Trong hoạt động này, ngân hàng thực hiện việc mua thiết bị và cho khách hàng thuê với giá thuê đủ để bù đắp chi phí và có lãi cho ngân hàng. Ngoài ra khách hàng có thể mua lại tài sản thuê nếu muốn. Các hoạt động khác Ngoài các hoạt động kể trên, ngân hàng còn một số các hoạt động khác như: mua bán ngoại tệ, bảo quản tài sản hộ, quản lý ngân quỹ, cung cấp dịch vụ ủy thác, tư vấn đầu tư và quản lý tài chính, cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý… 2. Phân tích tình hình tài chính trong ngân hàng thương mại Phân tích tài chính là một nội dung chính của phân tích hoạt động doanh nghiệp.
Hoạt động của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng từ những yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Những yếu tố bên trong là những yếu tố chủ quan, thường phát sinh trong quá trình tổ chức quản lý, thể hiện tính đặc thù của từng doanh nghiệp riêng biệt. Những yếu tố bên ngoài là những yếu tố khách quan, trong đó các doanh nghiệp chịu sự tác động từ cơ chế chính sách, sự biến động của môi trường kinh tế vĩ mô như lạm phát, suy thoái kinh tế, hoặc là những ảnh hưởng từ phạm vi ngành, sự ra đời của một công nghệ mới… “Hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối ảnh hưởng qua lại của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính để có thể đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua việc so sánh các 27 mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra hoặc so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành nghề, từ đó đưa ra quyết định và giải pháp quản lý phù hợp.” [3,tr4] Phân tích tình hình tài chính bao gồm các công việc như phân tích nhu cầu vốn, cơ cấu nguồn vốn huy động, hiệu quả sử dụng vốn, bảo toàn và phát triển vốn… Như vậy, hoạt động này tập trung vào việc đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng dưới nhiều góc độ khác nhau. Có thể khái niệm phân tích tình hình tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ, chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Từ đó giúp các đối tượng quan tâm đi đến những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, để đưa ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ.