Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG DỰ PHÒNG ĐỂ XỬ LÝ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THEO THÔNG LỆ QUỐC TẾ PHỔ BIẾN HIỆN NAY 1.1 Sự cần thiết của việc quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng bằng Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế: Hoạt động của Ngân hàng có liên quan và đóng vai trò quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của nền kinh tế, các tổ chức và cá nhân. Vì vậy khi rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ làm thiệt hại một vài Ngân hàng, mà có khả năng lây lan sang các Ngân hàng khác và có thể dẫn đến phá sản toàn bộ hệ thống Ngân hàng, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Do đó, việc quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng là rất quan trọng nhằm đảm bảo ngân hàng hoạt động được an toàn và mang lại hiệu quả cao. Nghiệp vụ tín dụng được coi như là kênh phân bổ vốn chủ yếu cho nền kinh tế, rủi ro tín dụng khi đến kỳ hạn thanh toán mà khách hàng không thanh toán hoặc không trả được nợ cho Ngân hàng là một loại rủi ro rất lớn, chủ yếu và thường xuyên xảy ra cho lĩnh vực kinh doanh tiền tệ.
Bởi vậy việc nghiên cứu và quản lý rủi ro tín dụng và trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng là trách nhiệm của các Ngân hàng. Việc phân loại nợ là quá trình các ngân hàng xem xét lại danh mục các khoản nợ và phân chia chúng thành các mục hoặc các nhóm khác nhau dựa trên mức độ rủi ro gặp phải hoặc các đặc điểm liên quan khác nhau của những khoản nợ đó. Quá trình liên tục xem xét và phân loại nợ sẽ giúp cho ngân hàng theo dõi được chất lượng của các danh mục nợ và, trong trường hợp cần thiết, có những hành động khắc phục kịp thời như trích lập dự phòng để đối phó với tình hình xấu đi của các khoản nợ trong danh mục. Các ngân hàng thương mại thường phải dùng đến những hệ thống xếp loại nội bộ phức tạp hơn là những hệ thống tiêu chuẩn hóa theo quy định chung 123doc - 13 - mà ngân hàng sử dụng cho mục đích báo cáo cho cơ quan quản lý.
Tuy nhiên, hệ thống được tiêu chuẩn hóa theo quy định chung đó làm cho quá trình theo dõi và so sánh giữa các ngân hàng thuận tiện hơn. Xét về mặt kế toán, nợ được coi là xấu và những dự phòng cần thiết cần được thiết lập, nếu như ngân hàng không thu lại được toàn bộ số tiền khi đáo hạn – bao gồm cả gốc và lãi – theo những điều khoản hợp đồng vay nợ đã ký. Do đó, trích lập dự phòng rủi ro các khoản vay là cách mà các ngân hàng sử dụng để nhận biết một sự giảm sút nào đó xảy ra đối với giá trị thực tế của khoản vay. Các nhà quản lý ngân hàng phải đánh giá được những tổn thất tín dụng đối với các khoản cho vay trong danh mục dựa trên cơ sở những thông tin có sẵn – một quá trình đòi hỏi sự đánh giá đúng đắn và thường đi ngược với mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng, vì trích lập dự phòng nhiều thì lợi nhuận sẽ giảm đi do trích lập dự phòng được hạch toán vào chi phí của ngân hàng.
Đôi khi các ngân hàng cũng phải miễn cưỡng chấp nhận những tổn thất từ những hệ lụy của các quỹ dự phòng đánh đổi lợi nhuận và cổ tức của các cổ đông. Một số trường hợp khác, nếu dự phòng là khấu trừ thuế, thì các ngân hàng sẽ có lợi khi phóng đại quỹ dự phòng rủi ro và che dấu lợi nhuận nhằm mục đích giảm trừ nợ thuế. Cả việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đều cho thấy nhiều những thách thức mang tính khái niệm cũng như thực tế, đồng thời các nước khác nhau cũng sử dụng những hệ thống phân loại nợ không giống nhau. Ví dụ, thuật ngữ “dự phòng cụ thể” và “dự phòng chung” được đề cập đến ở rất nhiều văn bản quy định chung của nhiều nước, tuy nhiên định nghĩa về hai thuật ngữ đó lại khác nhau ở từng nước.
Điều này gây khó cho việc giải thích những chỉ số tài chính quan trọng, đặc biệt là khi so sánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng giữa các nước với nhau. Ngoài ra còn có sự khác nhau giữa thời gian trước khi một khoản vay quá hạn và thời gian mà trích lập dự phòng được áp dụng đối với những khoản nợ xấu có cùng tính chất và mức độ rủi ro. Nhận thức được những sự khác biệt này đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá một cách chính xác các chỉ số tài chính và vốn của ngân hàng. 123doc - 14 - Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro luôn là một tiêu chuẩn để đánh giá các ngân hàng.
Hơn nữa, hệ thống luật pháp quốc gia cũng ảnh hưởng lớn đến việc thực thi những điều khoản trong hợp đồng vay nợ. Ví dụ, ở những nước có hệ thống pháp luật mạnh thì các khoản vay sẽ bị xem là quá hạn ngay khi bên vay không có khả năng trả nợ. Tuy nhiên, ở những nước có hệ thống pháp luật yếu, khoảng thời gian giữa việc chưa thanh toán nợ và việc sửa đổi phân loại nợ có thể lâu hơn. Việc tiếp cận đó cũng khác nhau trong việc có hay không xem xét đến tài sản cầm cố thế chấp và nếu có thì nên xét đến như thế nào trong việc phân loại nợ và xác định trích lập dự phòng thích hợp.
Không phải tất cả các hệ thống luật pháp đều đồng ý một loại biểu về tài sản cầm cố thế chấp, và cũng không có sự đồng thuận nào về các tiêu chí định giá tài sản cầm cố thế chấp, giả dụ như có thể bán được các tài sản đó. Tất cả những điều này làm cho việc so sánh các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro giữa các nước luôn gặp khó khăn. Tất cả những vấn đề được đề cập đến ở trên đòi hỏi phải có một sự thống nhất về các tiêu chuẩn Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro được các ngân hàng đồng loạt áp dụng. Tuy nhiên, đây luôn là một vấn đề đầy thách thức đối với các cơ quan giám sát quản lý ngân hàng trên thế giới.
Sự khác biệt trong cách tiếp cận phân loại nợ và dự phòng rủi ro thường gây khó khăn trong việc so sánh những yếu kém trong ngân hàng và hệ thống ngân hàng giữa các thể chế pháp luật, điều này tạo nên áp lực và làm cho các nguyên tắc của thị trường thực thi kém hiệu quả. Trong một số trường hợp khác, những phương pháp phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tồi có thể dẫn đến những bất an trong khả năng thanh toán. Mặc dù vậy, những sự khác biệt này không phải chỉ là hậu quả của việc hợp tác không đầy đủ của chính quyền các nước. Đôi khi, họ cũng giải quyết được những nhu cầu cụ thể nào đó của các hệ thống tài chính ở những mức độ phát triển khác nhau.
Do đó, việc thống nhất thành công hệ thống quy phạm pháp luật cần phải nhận thức được những đặc điểm mâu thuẫn này bằng cách xác định rõ những tiêu chuẩn tối thiểu để phân loại nợ không những căn cứ trên những phương pháp quản lý rủi ro mà còn mang tính khái quát để nhận rõ được những khác biệt 123doc - 15 - giữa các môi trường kinh tế và pháp luật quốc gia. Qua đó, chúng ta cũng nhận thức được tầm quan trọng của việc tiếp cận Phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế.2 Hiệp ước Basel: Hiện nay hoạt động ngân hàng hiệu quả đều được xem xét theo chuẩn mực được nêu chi tiết tại Basel I,II và IAS 39.1 Ủy ban Basel: Ủy ban Basel (Basel Committee): là cơ quan được thành lập vào năm 1974 bởi thống đốc ngân hàng trung ương của nhóm 10 nước (G10). Ủy ban này xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ. Quan điểm của Ủy ban này là sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, có thể đe dọa đến sự ổn định về tài chính cả trong nội bộ quốc gia đó và trên toàn thế giới.
Nhu cầu nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính nhất thiết phải được nhiều quốc gia, nhiều tổ chức trên thế giới nói chung và Ủy ban Basel về Giám sát Nghiệp vụ ngân hàng nói riêng đặc biệt quan tâm. Ủy ban Basel đã tham gia hoạt động trong nhiều năm qua cho quan điểm và sứ mạng này, dưới cả hình thức trực tiếp cũng như gián tiếp thông qua các mối liên hệ với chuyên gia giám sát nghiệp vụ ngân hàng ở các quốc gia khác nhau trên toàn cầu. Ủy ban Basel thường xuyên tổ chức các cuộc thảo luận về những vấn đề xoay quanh sự hợp tác quốc tế để giảm bớt khoảng cách trong công tác giám sát ngân hàng, nâng cao chất lượng công tác giám sát hoạt động ngân hàng trên toàn thế giới. Để làm được điều này, Ủy ban Basel đã cố gắng tìm hiểu và thực hiện được 3 điều cơ bản: trao đổi thông tin về hoạt động giám sát cấp quốc gia, cải thiện hiệu quả kỹ thuật giám sát hoạt động ngân hàng quốc tế và đặt ra những tiêu chuẩn giám sát tối 123doc - 16 - thiểu trong những lĩnh vực mà Ủy ban thật sự quan tâm.
Basel là tiêu chuẩn được áp dụng và thừa nhận phổ biến nhất hiện nay.1 Hiệp ước Basel I: Hiệp ước Basel I được ra đời sau cuộc họp của Ủy ban Basel về giám sát hoạt động ngân hàng vào tháng 7 năm 1988, trong đó đưa ra những chuẩn mực vốn quốc tế và các phương pháp đo lường vốn.