CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH ÁP DỤNG CHO CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP Hệ thống BCTC là một bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán, là nguồn cung cấp thông tin cần thiết và quan trọng cho các quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng khác nhau. Khi nói đến hệ thống BCTC thì phải nói đến những nội dung về các văn bản quy định chung về mẫu biểu BCTC, các quy định về nội dung, phương pháp lập các BCTC và chất lượng thông tin do BCTC cung cấp. Mặt khác mỗi quốc gia sẽ có một mô hình kế toán và cơ chế quản lý khác nhau phù hợp với điều kiện và đặc thù văn hóa của từng nước theo từng giai đoạn phát triển khác nhau, cho nên hệ thống BCTC cũng được thiết kế cho phù hợp với đặc thù nền kinh tế ở giai đoạn đó. Vì thế nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống BCTC là một nhiệm vụ không thể thiếu trong mỗi giai đoạn để kịp thời đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng cho nhiều đối tượng khác nhau trong từng giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế.
Bản chất và vai trò của BCTC và BCTC áp dụng cho đơn vị HCSN 1. Khái niệm về kế toán Hiện nay nhiều người xem kế toán là ngôn ngữ trong kinh doanh, mà nghiên cứu một ngôn ngữ mới thì rất phức tạp, nhiều ngữ nghĩa được sử dụng trong kế toán rất khác so với ngữ nghĩa trong cuộc sống hàng ngày. Khái niệm về kế toán hiện nay rất nhiều và luôn luôn thay đổi theo sự thay đổi của môi trường kế toán. Theo khái niệm của Viện kế toán công chứng Hoa kỳ (AICPA) vào năm 1941: “kế toán là nghệ thuật, phân loại, tổng hợp một cách có ý nghĩa và dưới hình thức tiền tệ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, các sự kiện liên quan tình hình tài chính và giải thích kết quả của sự ghi chép này”.
Một khái niệm 123doc Trang 7 khác được chấp nhận rộng rãi trong suốt thời gian qua là khái niệm được trình bày trong “Báo cáo về lý thuyết kế toán căn bản” ban hành bởi Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ: “Kế toán là quá trình ghi nhận, đo lường, và cung cấp các thông tin kinh tế nhằm hỗ trợ cho các đánh giá và các quyết định của người sử dụng”. Và theo luật kế toán Việt Nam -2003 như sau: “kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”. Qua các khái niệm trên bộc lộ được mục đích cơ bản của kế toán là cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định của người sử dụng. Mặt khác như chúng ta thấy có nhiều loại quyết định kinh doanh và kèm theo đó là có nhiều loại thông tin kế toán cần được cung cấp cho người sử dụng để ra quyết định kinh tế.
Và ở đây chúng ta sẽ thấy có hai loại thông tin kế toán cơ bản lên quan đến hai thuật ngữ: kế toán tài chính, kế toán quản trị. Kế toán tài chính liên quan đến thông tin về nguồn lực tài chính, các nghĩa vụ và hoạt động kinh doanh của một đơn vị kinh doanh. Thông tin này được cung cấp thông qua một sản phẩm tổng hợp là BCTC. Trên thực tế, thông tin kế toán tài chính được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
Tuy nhiên thông tin này hỗ trợ trực tiếp cho nhà đầu tư, chủ nợ trong việc ra các quyết định. Kế toán quản trị liên quan đến các thông tin nhằm giúp cho các nhà quản trị thực hiện các chức năng hoạch định, kiểm soát tổ chức, thực hiện và ra các quyết định kinh tế. Thông tin này được cung cấp thông qua Báo cáo kế toán quản trị. Bản chất và vai trò của BCTC 1.
Bản chất và vai trò của BCTC nói chung Từ các khái niệm trên ta thấy được thông tin kế toán là cơ sở cho việc ra các quyết định của các đối tượng sử dụng. Cho nên chức năng của kế toán là mối liên kết giữa người sử dụng thông tin và ra các quyết định hoạt động. Bên cạnh đó BCTC là một trong những sản phẩm của hệ thống thông tin kế toán, nhằm cung cấp thông tin để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Vì vậy bản chất của BCTC có thể 123doc Trang 8 xem như là một sản phẩm của kế toán dưới dạng tài liệu báo cáo tổng hợp do kế toán soạn thảo định kỳ dựa trên việc phân tích, xử lý số liệu từ các hoạt động lịch sử, sản phẩm này được thiết kế theo cấu trúc mẫu biểu nhất định phù hợp với nguyên tắc và quy định của kế toán, với mục đích thông qua BCTC cung cấp thông tin hữu ích nhất thỏa mãn nhu cầu của các đối tượng sử dụng khác nhau.
Theo Đoạn 5 - chuẩn mực 21 đã ghi rõ mục đích của BCTC “… là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế”. Do đó vai trò của BCTC được xem xét thông qua nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC của các đối tượng có liên quan. Tuy nhiên đối tượng sử dụng thông tin rất đa dạng cho nên tạm thời căn cứ vào khả năng ra quyết định ta chia đối tượng sử dụng thành hai nhóm đối tượng: đối tượng bên trong doanh nghiệp – những người trực tiếp ra quyết định (thường là các nhà quản lý, Ban giám đốc); và đối tượng bên ngoài doanh nghiệp – những người bên ngoài có lợi ích tài chính liên quan đến doanh nghiệp (nhà đầu tư, người cho vay, cơ quan thuế, các cơ quan hành pháp, công đoàn, khách hàng, nhà cung cấp và công chúng…). Đối với nhà quản lý: BCTC có 2 vai trò.
Thứ nhất: BCTC là đối tượng để đánh giá việc tuân thủ quy chế của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ có tính pháp lý. Thứ hai: BCTC sẽ giúp các nhà quản lý đánh giá quá trình thực hiện hai mục tiêu (khả năng thanh toán và khả năng sinh lời), từ đó có thể điều chỉnh và thiết lập kế hoạch cho các mục tiêu cụ thể cho doanh nghiệp trong tương lai, thực hiện kế hoạch và kiểm soát các hoạt động hằng ngày. Đối tượng bên ngoài doanh nghiệp: hai nhóm đối tượng quan trọng nhất là các nhà đầu tư và những người cho vay. Ngoài ra đối với các nước đang phát triển có sự quản lý của Nhà nước thì đối tượng bên ngoài không kém phần quan trọng là các cơ quan chức năng như cơ quan thuế, cơ quan thống kê….
Bên cạnh đó một đối tượng không thể thiếu trong nền kinh tế ngày nay là kiểm toán. 123doc Trang 9 Các nhà đầu tư và người cho vay: cần thông tin liên quan đến quá trình hoạt động hiện tại của doanh nghiệp, khả năng tạo ra doanh thu, khả năng thanh toán nợ, các rủi ro đối với với các khoản đầu tư, và muốn biết doanh nghiệp có đủ khả năng sinh lời để đảm bảo các khoản lãi phải trả trong tương lai hay không? Cho nên, BCTC có vai trò quan trọng giúp cho các nhà đầu tư và người cho vay giám sát các nhà quản lý có thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết hay không? Cũng như việc nghiên cứu các thông tin kế toán trên BCTC sẽ giúp họ đánh giá đúng giá trị của việc đầu tư từ đó đưa ra các quyết định phù hợp. Các kiểm toán viên độc lập: với chức năng kiểm tra BCTC và đưa ra ý kiến về tính trung thực hợp lý của BCTC, đảm bảo chất lượng của BCTC. Do đó BCTC trở thành đối tượng chính của cuộc kiểm toán.
Các cơ quan chức năng như cơ quan thuế…:BCTC là cơ sở để các cơ quan chức năng kiểm tra việc tuân thủ các nguyên tắc, luật lệ quy định của doanh nghiệp, xác định số thuế các doanh nghiệp phải nộp, và hỗ trợ trong việc quản lý vĩ mô. Nhìn chung BCTC có vai trò quan trọng đối với người sử dụng. Đặc biệt đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển trong đó thị trường chứng khoán phát triển mạnh như Mỹ, Anh, Singapore… thì vai trò của BCTC đối với nhà đầu tư thì cực kỳ quan trọng. Mặc khác đối với các quốc gia đang phát triển có nền kinh tế tập trung theo sự quản lý của Nhà nước thì BCTC lại chiếm vai trò quan trọng đối với các cơ quan quản lý nhà nước.
Bản chất và vai trò của BCTC áp dụng cho đơn vị HCSN Khu vực công là khu vực bao gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức, doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của Nhà nước và cả hệ thống ngân hàng của nhà nước, tuy nhiên mỗi quốc gia có một mô hình khu vực công khác nhau tùy vào các chính sách của Nhà nước, thể chế chính trị của mỗi quốc gia. Nhưng nhìn chung khu vực công là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế quốc gia giúp nhà nước thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước, phân phối thu nhập và cung cấp các dịch vụ công 123doc Trang 10 cho xã hội. Trong đó đơn vị HCSN là một bộ phận của khu vực công được nhà nước thành lập nhằm mục đích thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về một hoạt động nào đó hoặc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn cung cấp các dịch vụ công cho xã hội. Đặc trưng cơ bản của các đơn vị HCSN là đơn vị hoạt động không vì mục đích lợi nhuận và nguồn kinh phí để hoạt động được trang trải từ ngân quỹ của Nhà nước hoặc từ quỹ công theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp, do đó đòi hỏi việc quản lý chi tiêu phải đúng mục đích, đúng dự toán đã phê duyệt theo từng nguồn kinh phí và đúng theo tiêu chuẩn định mức của Nhà nước.
Cho nên, kế toán HCSN là một hệ thống thông tin và kiểm tra về hoạt động tài chính của NSNN và các quỹ Nhà nước khác thông qua hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách và các báo cáo.