CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu trong nước Trong nước có nhiều đề tài về IFRS cũng như những yếu tố tác động đến việc áp dụng IFRS, điển hình là tác giả Đặng Ngọc Hùng (2017) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán trong các doanh nghệp Việt Nam thông qua mô hình SEM”. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng với bảng thang đo được xây dựng và được kiểm định độ tin cậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA. Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy được 3 nhân tố có tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán ở Việt Nam đó là đặc điểm của doanh nghiệp, cụ thể là quy mô doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu vốn, và đặc điểm hệ thống văn bản pháp luật, tổ chức tư vấn nghề nghiệp. Kế đến là nghiên cứu “Đánh giá mức độ sẵn sàng vận dụng của Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại các công ty con thuộc tổng công ty xây dựng công trình giao thông 134” (2017), được thực hiện bởi Nguyễn Văn Dũng.
Tác giả đã chỉ ra được sự chuẩn bị cho việc áp dụng IFRS tại các công ty con thuộc tổng công ty, tuy nhiên tác giả đưa ra được các nhân tố tác động đến sự sàn sàn áp dụng IFRS. Hơn nữa, phạm vi nghiên cứu của tác giả chỉ trong phạm vi nội bộ các thành viên trực thuộc tổng công ty 134. Tiếp nối là Nguyễn Lê Vân Khánh (2018), với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự nguyện áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp Việt Nam” tác giả tiến hành nghiên cứu trong phạm vi các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Viêt Nam. Tác giả đã chỉ ra được các nhân tố cơ cấu vốn đầu tư, quy mô doanh nghiêp, ngành nghề kinh doanh có ảnh hưởng đến sự tự nguyện áp dụng IFRS của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên bài nghiên cứu chưa hướng tới các nhân tố khác như trình độ nhân viên phòng tài chính kế toán, loại doanh nghiệp kiểm toán… 123doc 7 Hay là Nguyễn Thị Kim Phụng (2018) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán IFRS 10 & IFRS 12 tai các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Tp. Hồ Chí Minh”. Tác giả đã chỉ ra được 6 nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán IFRS 10 và IFRS 12 tại các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh đó là nhu cầu cung cấp thông tin của doanh nghiệp, là nhân tố mức độ phức tạp của chuẩn mực, và nhân tố lợi ích áp dụng, tính minh bạch, tính kỷ luật và trừng phạt trong IFRS 10 & IFRS 12 và tính bắt buộc.
Bài nghiên chỉ hạn chế trong pham vi của hai chuẩn mực kế toán IFRS 10 và IFRS 12 nên vẫn chưa thể tổng quát được mức ảnh hưởng của các nhân tố đã khám phá đến sự áp dụng IFRS của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Tiếp đến là Nguyễn Thị Thu Hoàn (2018) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán – Nghiên cứu chuẩn mực kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam”. Bài nghiên cứu đã khám phá một số đặc điểm của doanh nghiệp có tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán tại Việt Nam. Bài nghiên cứu chỉ nêu ra một số nhân tố vi mô có ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán, cụ thể là chuẩn mực kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam.
Tuy nhiên bài viết chưa làm rõ được liệu các yếu tố này có ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam. Hay Hà Xuân Thạch và cộng sự (2018) với đề tài “Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi báo cáo tài chính từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế”. Tác giả kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng với mẫu khảo sát từ 300 chuyên gia kế toán- kiểm toán. Tác giả đưa ra kết quả của năm nhân tố có ảnh hưởng đến việc chuyển đổi báo cáo tài chính theo VAS sang IFRS.
Gần đây nhất là Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2019) với đề tài “Nhận định các nhân tố tác động đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán của các quốc gia”. Với việc kết hợp hai phương pháp định tính và định lượng, tác giả đã đươc ra một 123doc 8 số nhân tố như quy mô công ty, năng lưc nhân viên kế toán, yêu cầu bắt buộc của bộ tài chính… có tác động đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán. Nổi bật hơn nữa là Dương Hoàng Ngọc Khuê và Nguyễn Thị Ngọc Oanh (2019) với đề tài “Nghiên cứu nhân tố tác động đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS”. Tác giả cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để phục vụ cho đề tài.
Kết quả chỉ ra rằng các nhân tố văn hoá, pháp lý, tăng trưởng kinh tế, trình độ giáo dịch, thị trường vốn có ảnh hưởng đến sự vận dụng chuẩn mực IAS và IFRS. Hay là Lê Trần Hạnh Phương (2019) với đề tài “Các nhân tố tác động đến áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) – nghiên cứu ở phạm vi các quốc gia và doanh nghiệp tại Việt Nam. Tác giả đã xác định được 17 nhân tố thông qua phương pháp định tính và dùng phương pháp định lượng để xác định được 7 nhân tố có ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS. Bên cạnh các yếu tố vĩ mô, tác giả cũng chỉ ra các nhân tố vi mô có tác động đến sự áp dụng IFRS tại Việt Nam của các doanh nghiệp lớn như là đầu tư nước ngoài, chất lượng kiểm toán và sự tham gia quản lý của người nước ngoài vào Ban lãnh đạo.
Tuy nhiên tác giả chưa đưa vào nghiên cứu các nhân tố vi mô khác như là đòn bẩy tài chính, hay là tỷ suất lợi nhuận của công ty… 1.2 Nghiên cứu ngoài nước Wallace và cộng sự (1994), với đề tài nghiên cứu “The relationship between the comprehensiveness of Corporate Annual Reports and Firm Characteristics in Spain”. Các tác giả tập trung vào hai mục tiêu chính: Thứ nhất là nghiên cứu sự khác nhau giữa thông tin được công bố trong báo cáo tài chính hàng năm và các tài khoản của công ty tại Tây Ban Nha là có hệ thống hay không và xác định các đặc tính nội tại của các công ty có tác động đến sự khác nhau trong mức độ công bố thông tin? Thứ hai là nghiên cứu các đặc tính của công ty đã được công bố trong các nghiên cứu trước đây liệu có thể tiếp tục vận dụng cho Tây Ban Nha? Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các đặc tính đã được chứng minh để phục vụ cho nghiên cứu là tài sản, doanh thu, cơ cấu tổ chức, lợi tức, lợi nhuận, tính thanh khoản, lĩnh 123doc 9 vực kinh doanh, niêm yết trên sàn chứng khoán, quy mô của công ty kiểm toán. Wallace và cộng sự đưa ra kết quả là có sự khác nhau trong báo cáo tài chính của các công ty Tây Ban Nha do tác động của các nhân tố như quy mô công ty (tài sản và doanh thu), tính thanh khoản và tình trạng niêm yết hiện tại. Các tác giả chưa tìm được mối liên hệ rõ ràng giữa các các đặc tính còn lại với mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính thường niên.
Tuy nhiên bài nghiên cứu cũng đã chỉ ra được một số nhân tố vi mô có ảnh hưởng đến sự áp dụng IFRS là quy mô công ty, quy mô công ty kiểm toán…Do đó em có thể vận dụng các nhân tố vi mô đã khám quá trong nghiên cứu này để phục vụ cho bài nghiên cứu của em. Wallace và cộng sự (1995), với đề tài “Firm-specific determinants of the Comprehensiveness of mandatory disclosure in the Corporte Annual reports of Firm listed on the stock exchange of Hong Kong”. Một trong những mục tiêu nghiên cứu của các tác giả là xác định các bằng chứng về các yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin toàn diện trong báo cáo tài chính thường niên. Hai tác giả tiếp tục sử dụng các đặc tính của công ty đã nghiên cứu tại Tây Ban Nha để làm các biến khảo sát, đồng thời bổ sung thêm một số đặc tính mới là đòn bẩy tài chính và tỷ lệ cổ phiếu sở hữu bởi các cổ đông ở nước ngoài.
Với nghiên cứu này, hai tác giả đưa ra kết quả là các đặc tính như tài sản, tỷ suất lợi nhuận, loại công ty kiểm toán, lĩnh vực kinh doanh có tác động đến chỉ số công bố thông tin trong báo cáo tài chính thường niên của công ty. Các đặc tính như tình trạng niêm yết, tính thanh khoản, lợi tức, và tỷ lệ sở hữu bởi cổ đông nước ngoài có tác động không rõ ràng đến mức độ công bố thông tin toàn diện trong báo cáo tài chính thường niên. El-Gazzar và cộng sự (1999), với đề tài nghiên cứu “An Empirical Investigation of Multinational Firms’ Compliance with International Accounting Standards”. Các tác giả đã nghiên cứu thực nghiệm việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế của các công ty đa quốc gia.
Qua đó các tác giả đánh giá các yếu tố tác động đến việc tuân thủ IAS, nêu ra được nguyên nhân tại sao các công ty đa quốc gia có tính tuân thủ IAS cao, đồng thời nêu ra các giải pháp để nâng cao chất lượng thông tin được công bố của báo cáo tài chính ở các công ty đa quốc gia. 123doc 10 Murphy (1999), với đề tài nghiên cứu “Firm Characteristics of Swiss Companies that Utilize International Accounting Standards”. Murphy tập trung vào các đặc điểm nội tại của các công ty ở Thuỵ Sỹ, đồng thời xác định các nhân tố nội tại nào ảnh hưởng đến sự vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế tại Thuỵ Sỹ. Tác giả đã chỉ ra được nhân tố có tác động mạnh mẽ và đồng hướng đến sự áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế là mức độ hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của các công ty Thuỵ Sỹ, các nhân tố khác như quy mô công ty, quy mô công ty kiểm toán… thì ảnh hưởng không đáng kể.
Tagesson và cộng sự (2003), với đề tài “The relationship between attitude towards harmonization and the internationalization of the corporation – A study of the attitude towards the implementation of IASB standards among Swedlish listed companies”.