Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước về việc vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận, kiến nghị và hướng nghiên cứu trong tương lai 123doc 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC VỀ VIỆC VẬN DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN CÔNG QUỐC TẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KẾ TOÁN THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN CÔNG QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Klaus Luder (1992) trong nghiên cứu “A contingency model of governmental accounting innovations in the political administrative environment” đã dựa trên việc nghiên cứu so sánh kế toán khu vực công của các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Đan Mạch, Thụy Điển, Đức, Pháp và một vài vùng thuộc Vương quốc Anh và cộng đồng Châu Âu, ông cho rằng có 4 nhóm nhân tố tác động đến sự đổi mới kế toán khu vực công nhằm cung cấp thông tin trung thực, hữu ích, đáng tin cậy về tài chính khu vực công và nó cung cấp một cơ sở cho việc cải thiện kiểm soát tài chính của các hoạt động của chính phủ, dựa trên cơ sở kế toán dồn tích. Các nhóm nhân tố bao gồm (1) sự kích thích đổi mới, (2) sự biến đổi cấu trúc xã hội, (3) cấu trúc của hệ thống chính trị - hành chính, (4) các rào cản thực hiện. Tiếp tục phát triển nghiên cứu của Luder, Outda Hassan (2004) nghiên cứu mô hình cơ bản cho việc áp dụng thành công kế toán dồn tích ở khu vực công “ Transition barriers of accrual accouting in the public sector of developed and developing countries: statistical analyses with special focus on The Netherlands and Egypt” , Outda đã mở rộng vấn đề nghiên cứu đối với các nước phát triển và đang phát triển. Theo đó việc cải cách kế toán khu vực công tại các nước đang phát triển cũng có những hạn chế nhất định bắt nguồn từ những nguyên nhân như thâm hụt ngân sách, nạn tham ô tham nhũng, tỉ lệ lạm phát cao, hạn chế về trình độ chuyên 123doc 6 môn nghiệp vụ và nguồn lực tài chính để thực hiện.
Từ đó, tác giả xây dựng mô hình các nhân tố giúp các nước đang phát triển cải cách kế toán khu vực công bao gồm: quản lý thay đổi, hỗ trợ chính trị, hỗ trợ học thuật, chiến lược truyền thông, tính sẵn sàng thay đổi, ngân sách để thực hiện thay đổi, sự phối hợp giữa các tổ chức liên quan và trình độ công nghệ thông tin. Theo Zhang (2005) tiếp tục phát triển nghiên cứu của Mueller (1967), Nobes (1984), nghiên cứu “ Environmental Factor in China’s financial accounting development since 1949”, tác giả tìm hiểu những nguyên nhân của sự khác biệt về kế toán của các quốc gia, đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc cải cách kế toán khu vực công giai đoạn 1949-2004 của Trung Quốc, có 7 nhân tố bao gồm: môi trường chính trị, môi tường kinh tế, môi tường pháp lý, môi trường quốc tế, môi trường văn hóa, môi tường giáo dục, môi trường nghề nghiệp. Phetphrairin Upping và Judy Olive (2011) trong nghiên cứu “ Accounting change model for the public sector: adapting luder’s model for developing countries” đã nghiên cứu về mô hình chuyển đổi kế toán khu vực công tại các nước đang phát triển, và tác giả thực hiện kiểm chứng tại các trường công lập tại Thái Lan. Theo tác giả có bốn nhân tố chính tác động vào sự thay đổi kế toán khu vực công bao gồm: các nhân tố tác động hỗ trợ cho sự thay đổi, các nhân tố tác động cản trở sự thay đổi, các áp lực bên trong cho sự thay đổi, các áp lực bên ngoài cho sự thay đổi.
Tác giả Harun (2012) nghiên cứu “ Pulic sector accouting reform in Indonesian Post – Saharto Era”, tác giả tập trung nghiên cứu việc cải cách hệ thống kế toán công của Indonesia, theo hướng vận dụng kế toán dồn tích trong khu vực công. Tác giả đã chỉ ra rằng việc vận dụng thành công kế toán dồn tích là rất hạn chế bởi năng lực thể chế thấp (thủ tục quan liêu, làm việc không hiệu quả, thông tin thiếu minh bạch) của khu vực công, đó cũng là trở ngại chính cho các nước đang phát triển trong việc theo đuổi cải cách hệ thống kế toán khu vực công. Theo tác giả có bốn nhân tố chính dẫn đến khó khăn trong việc cải cách kế toán khu vực công đó là: thiếu nguồn nhân lực tay nghề cao, quan chức cấp cao trong hệ thống Chính phủ 123doc 7 đã quen với hệ thống kế toán cơ sở tiền, thiếu sự hỗ trợ chính trị, không có chuẩn mực kế toán riêng cho khu vực công. Le Thi Nha Trang (2012) nghiên cứu “ Application of IPSAS Standards to the Vietnamese Government accouting and financial statement”, tác giả đánh giá những lợi thế và bất lợi của IPSAS cùng với những ảnh hưởng của IPSAS đến các mức độ vận dụng khác nhau ở các quốc gia, nghiên cứu thực nghiệm cho trường hợp tại Việt Nam.
Nghiên cứu tìm ra 4 hạn chế của việc vận dụng IPSAS là: khó khăn trong việc tổng hợp dữ liệu ngân sách quốc gia, hạn chế về trình độ nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính hạn hẹp, hệ thống công nghệ thông tin không đạt yêu cầu. Trong nghiên cứu của Bello (2013) “IPSAS: Issues, challenges and implementation” về những lợi ích và trở ngại khi vận dụng IPSAS tại Nigeria, trong đó lợi ích mong đợi của Nigeria khi vận dụng IPSAS là cải thiện tính nhất quán và tính so sánh của BCTC, có thông tin toàn diện về chi phí để hỗ trợ cho việc quản lý, tăng cường trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của khu vực công…Và khi vận dụng IPSAS, Nigeria cũng đối mặt với các trở ngại như không có lộ trình rõ ràng cho việc thực hiện cải cách kế toán khu vực công, yếu kém trong hệ thống quản lý của chính phủ, sự khác biệt về thể chế chính trị, pháp lý, trình độ năng lực đội ngũ nhân viên kế toán khu vực công còn nhiều hạn chế. Do đó, tác giả đề xuất để vận dụng IPSAS thì cần có 4 nhân tố sau: nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, nâng cao trình độ nguồn nhân lực về IPSAS, chuyển đổi từ kế toán tiền mặt sang dồn tích, sự hỗ trợ từ quản lý cấp cao bên trong và bên ngoài quốc gia. Theo Cristina Silvia Nistor và cộng sự (2013) nghiên cứu “ The influence of invironmental factors on the evolution of Romanian public accouting” dựa trên nền tảng nghiên cứu của Zhang.
Theo Cristina sự phát triển kế toán khu vực công của Rumani trong giai đoạn 1831- 2011 chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của 6 nhân tố: môi trường chính trị, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa, môi trường pháp lý, môi trường giáo dục, và môi trường nghề nghiệp. 123doc 8 Tác giả Mike Mbaya (2014) nghiên cứu “Implication of International public sector accounting standards on county financial management and reporting”, tác giả so sánh hệ thống kế toán công hiện tại và hệ thống kế toán công khi vận dụng IPSAS, nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố tác động đến việc vận dụng IPSAS: vai trò tham gia của chính phủ, yêu cầu về đào tạo nhân lực, cần có lộ trình rõ ràng và đầu tư nguồn tài nguyên để thực hiện. Đồng thời nghiên cứu cũng đưa ra các điều kiện cần thiết cho việc vận dụng IPSAS bao gồm: sự hỗ trợ của chính phủ, các bên liê n quan và các nhà tài trợ, nâng cao sự nhận thức của nhân viên về tính sẵn sàng thay đổi, cải thiện công nghệ thông tin và áp dụng ERP. Mukal Sumuel Tanjed (2016) nghiên cứu “ Factors influencing the acceptance of international public sector accouting standards in Cameroon”, tác giả cho rằng Chính phủ các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như Cameroon thì cần xây dựng hệ thống kế toán công phát triển tương xứng với hệ thống kế toán tài chính.
Để làm được điều này cần chuyển đổi kế toán khu vực công từ cơ sở tiền sang cơ sở dồn tích theo IPSAS, như vậy kế toán khu vực công của Cameroon sẽ đáng tin cậy, minh bạch, có thể so sánh được. Để đáp ứng được việc chuyển đổi, hoàn thiện hệ thống kế toán khu vực công thì theo tác giả Cameroon cần có các nhân tố là nhận thức và trình độ của đội ngũ kế toán, tuyển dụng và đào tạo đội ngũ nhân viên kế toán, nâng cao tình độ công nghệ thông tin, sự hỗ trợ về chính trị và nguồn kinh phí để thực hiện chuyển đổi.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nƣớc: 1.1 Các nghiên cứu về xu hƣớng cải cách hệ thống kế toán công và vận dụng IPSAS Bùi Văn Mai (2007), trong nghiên cứu “ Định hướng, giải pháp và lộ trình ban hành chuẩn mực kế toán công Việt Nam phù hợp với chuẩn mực kế toán công quốc tế”, tại hội thảo khoa học Định hướng và lộ trình áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế vào Việt Nam, Bộ Tài chính. Tác giả khẳng định Việt Nam sẽ vận 123doc 9 dụng IPSAS để ban hành chuẩn mực kế toán khu vực công, và để chuẩn bị cho việc thực hiện cải cách này thì Việt Nam cần phải hội đủ ba điều kiện là: điều kiện về pháp lý, điều kiện về kỹ thuật nghiệp vụ, điều kiện về tổ chức thực hiện. Phạm Quang Huy (2010) trong bài “Tìm hiểu kế toán khu vực công tại một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, tạp chí kiểm toán số 4, tháng 4/2010, đã nêu ra các lý thuyết cơ bản về khu vực công, kế toán khu vực công tại một số quốc gia đã và đang áp dụng để rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng chuẩn mực kế toán công tại Việt Nam.
Mai Thị Hoàng Minh (2014) trong bài “Vận dụng IPSAS để trình bày báo cáo tài chính nhà nước theo mô hình tổng kế toán nhà nước”, theo tác giả những trở ngại, thách thức cho Việt Nam khi vận dụng IPSAS để trình bày và lập báo cáo tài chính bao gồm 6 yếu tố: chưa hình thành hệ thống kế toán nhà nước thống nhất, phương pháp và nguyên tắc kế toán chưa tuân thủ hoàn toàn thông lệ kế toán quốc tế; số liệu kế toán tại các đơn vị kế toán nhà nước chưa đồng bộ; kho bạc nhà nước chưa triển khai và vận hành một cách hoàn chỉnh hệ thống thông tin kế toán tập trung; khuôn khổ pháp lý chưa đồng bộ và chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế thị trường; năng lực trình độ của cán bộ còn bị giới hạn; lộ trình cải cách chậm và nguồn lực tài chính giành cho cải cách kế toán chưa đáp ứng được yêu cầu.