chương 1, tác giả đã giới thiệu tổng quan về lý do chọn đề tài và các vấn đề nghiên cứu trong luận văn. Sau khi xác định được vấn đề nghiên cứu tác giả chỉ ra mục tiêu nghiên cứu. Từ những mục tiêu đó tác giả tiến hành thu thập các kết quả của các nghiên cứu trước đây liên quan đến chủ đề về tỷ lệ an toàn vốn và rủi ro trong tái cấu trúc ngân hàng thương mại Việt Nam. Nghiên cứu đưa ra bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ tỷ lệ an toàn vốn và rủi ro trong các ngân hàng thương mại.
Từ đó cho thấy tầm quan trọng của tỷ lệ an toàn vốn cũng như ảnh hưởng của nó đến rủi ro ngân hàng thương mại.” 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tỷ lệ an toàn vốn Tỷ lệ an toàn vốn được thảo luận lần đầu tiên bởi Kochm và Santomero (1980), và tỷ lệ này được xác định dựa trên tổng số vốn được thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Lý do cơ bản là các ngân hàng ở Hoa Kỳ cho vay rất nhiều tiền, nhưng vốn của họ không tăng trưởng nhanh với số tiền họ cho vay. Sau khi chuyển đổi, Hoa Kỳ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng nợ quốc gia, dẫn đến sự thất bại của Ngân hàng Quốc gia Franklin, một trong những ngân hàng lớn nhất của đất nước vào năm 1974. Vì vậy, vấn đề ngân hàng là một nguồn quan tâm chính.
Tỷ lệ an toàn được coi là chỉ tiêu đáng tin cậy nhất và nó đã được tìm hiểu và đề cặp đến. Hệ số an toàn vốn là thước đo đánh giá tình hình tài chính của một ngân hàng. Từ khi được thành lập, ủy ban Basel đã quy định hàng nghìn công ước và hệ số CAR là một tiêu chuẩn để định lượng rủi ro trong hoạt động ngân hàng được sử dụng lần đầu vào năm 1992 với hiệp định vốn Basel I. Thỏa thuận Basel đã thực hiện nhiều sửa đổi đối với cách các ngân hàng tính toán biên độ an toàn của họ, bao gồm cả việc bổ sung thêm vốn vào các tài sản có khả năng biến động khác của các ngân hàng.
Tỷ lệ an toàn thường được hiểu là mức vốn tối thiểu của ngân hàng để đáp ứng các rủi ro liên quan đến hoạt động của ngân hàng và giải thích cách tính vốn cần thiết cho từng rủi ro một cách chi tiết hơn. Ý tưởng phổ biến nhất cho rằng tỷ lệ an toàn là mức vốn tối thiểu của ngân hàng cần có để đáp ứng các rủi ro liên quan đến hoạt động của ngân hàng. Tỷ lệ an toàn là tỷ lệ bảo vệ ngân hàng khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán và hỗ trợ ngân hàng giải quyết các vấn đề của ngân hàng. Đó là mối quan hệ giữa vốn ngân hàng với nợ ngắn hạn và tài sản rủi ro.
Mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng là thước đo tài sản của ngân hàng đó được điều chỉnh theo rủi sro. Mức độ rủi ro phù hợp để ngân hàng mở rộng hoạt động và giá trị thực của nó đủ để chống chọi với suy thoái kinh tế mà không bị mất một khoản tiền đáng kể. Tỷ lệ này cho thấy năng lực của ngân hàng 8 trong việc đáp ứng các cam kết nợ cũng như các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và những rủi ro khác. Chiến lược của mỗi ngân hàng thương mại là tránh sử dụng tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao hơn giới hạn an toàn, vì điều này làm tăng nguy cơ mất khả năng thanh toán.
Hệ số an toàn vốn (CAR) của ngân hàng thương mại là thước đo mức độ an toàn vốn dựa trên tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản có trọng số rủi ro của ngân hàng (Ahmed Abdel Karim, 1996; Hsu và cộng sự, 2007; Białas & Solek, 2010 ; Hafez & El-Ansary, 2015). Tỷ lệ an toàn vốn được các nhà quản lý ngân hàng và các nhà đầu tư sử dụng để đánh giá mức độ rủi ro của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Các ngân hàng phải đảm bảo một tỷ lệ an toàn vốn nhất định theo quy định của từng quốc gia nơi ngân hàng đặt trụ sở. Việc tuân thủ các quy định về an toàn vốn giúp Nhà nước quản lý sự ổn định của ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Bên cạnh đó, việc tuân thủ tỷ lệ an toàn vốn giúp các nhà quản lý ngân hàng có định hướng vững chắc cho sự phát triển của ngân hàng đồng thời đảm bảo cho nhà đầu tư về tiền gửi của họ. Ngân hàng Trung ương sẽ quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cho các ngân hàng thương mại bằng cách ban hành các quy định pháp luật nhằm đảm bảo hệ thống tài chính hoạt động lành mạnh và hiệu quả. Điều này cũng cho phép các ngân hàng thương mại duy trì khả năng chống chịu với các cú sốc tài chính, tạo cảm giác an tâm cho người tiêu dùng trong chính ngân hàng của họ cũng như toàn bộ hệ thống ngân hàng. Là một trung gian tài chính của nền kinh tế, sự ổn định của hệ thống ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội.
Do đó, việc đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cần thiết càng trở nên quan trọng hơn (Abou-El-Sood, 2016; Baldwin và cộng sự, 2019; Dao & Nguyen, 2020). Tại Việt Nam, hệ số an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thể hiện sự ổn định và phát triển bền vững song song với tăng trưởng tín dụng hợp lý và kiểm soát chất lượng tín dụng chặt chẽ. Trong những năm gần đây, hệ thống ngân hàng đã có sự phát triển mạnh mẽ và lành mạnh hơn. Hoạt động ngân hàng ngày càng đa dạng về hình thức và quy mô ngày càng lớn, tiềm ẩn nhiều rủi 9 ro đối với sự phát triển lành mạnh của hệ thống ngân hàng thương mại.
Điều này cho thấy tầm quan trọng của hệ số an toàn vốn (CAR) theo tiêu chuẩn Basel rõ ràng hơn bao giờ hết và thu hút sự quan tâm nhiều hơn từ các nhà quản lý (Dao & Nguyen, 2020; Nguyen, 2020). Tác giả có thể rút ra khái niệm cơ bản về tỷ lệ an toàn vốn tại các ngân hàng thương mại như một chỉ tiêu kinh tế chỉ ra mối liên hệ giữa vốn tự có và tài sản. Tỷ lệ an toàn vốn là một yếu tố quan trọng để xác định khả năng thanh toán của khách hàng 2.2 Rủi ro ngân hàng thương mại Theo Edwin và Elton (2010), rủi ro là sự chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế của ngân hàng và lợi nhuận kỳ vọng của nó. Rủi ro được xác định bởi sự biến động của lợi nhuận; Sự biến động của lợi tức càng lớn thì rủi ro càng lớn và ngược lại.
Nói một cách khác, sự phân tán lợi nhuận càng rộng thì rủi ro càng lớn. Kết quả là, phương sai và độ lệch chuẩn là những chỉ số tốt nhất để đánh giá rủi ro. Rủi ro theo Bessis (2011), là những rủi ro không lường trước được xảy ra và làm thất thoát tài sản của ngân hàng, lợi nhuận thực tế giảm so với lợi nhuận kế hoạch, hoặc phải đầu tư thêm hoặc bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định hay rủi ro được định nghĩa rộng là những bất trắc có thể dẫn tới thua lỗ hoặc thiệt hại về lợi nhuận. Theo tiêu chuẩn của basel (2000) rủi ro là việc ngân hàng có thể xảy ra tổn thất ngoài dự kiến.
Altman (1968) đã đưa ra các dự báo về khả năng phá sản của các doanh nghiệp sản xuất Mỹ từ những năm 1970, dựa trên kết quả của việc dự báo phá sản theo chỉ số Z cho các doanh nghiệp sản xuất của Mỹ. Chỉ số Z cho phép điều tra chuyên sâu về các lĩnh vực kinh doanh như ngân hàng, du lịch và công nghệ thông tin. Điểm số Z được phát triển bởi Boyd và Graham (1986) để định lượng rủi ro phá sản doanh nghiệp. Khi có sự đa dạng hóa doanh thu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng so với ngân hàng truyền thống, điểm Z càng cao thì rủi ro của ngân hàng càng nhỏ.
10 Shelagh Hefferman (2005) cho rằng các doanh nghiệp phá sản khi không giải quyết được nghĩa vụ nợ và nộp đơn xin phá sản. Định nghĩa rủi ro có nhiều vấn đề hơn, và có các phương pháp nâng cao hơn, chẳng hạn như giá trị rủi ro hoặc thiếu hụt dự kiến thường không có sẵn. Điều này cũng tương đối đúng so với sự biến động giá trên thị trường tài sản của ngân hàng. Thay vào đó, lý thuyết chủ yếu sử dụng tỷ lệ tài sản có rủi ro trên tổng tài sản (RWATA) như một đo lường rủi ro thay thế, dữ liệu có sẵn (tối thiểu là theo nguyên tắc).
Các cơ sở lý luận cho phương pháp này là việc phân bổ tài sản ngân hàng giữa các danh mục rủi ro là các yếu tố quyết định đến rủi ro của ngân hàng. Shrieves & Dahl (1992) đã chỉ ra rằng ngoài việc phân bổ, rủi ro danh mục đầu tư của ngân hàng cũng được xác định bởi chất lượng của các khoản vay. Họ cho rằng chất lượng của các khoản vay được đo lường tốt nhất bằng tổng tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản. Theo đó họ có thêm phương trình thứ ba theo mô hình xác định rủi ro là tỷ lệ giữa các khoản nợ xấu trên tổng các khoản cho vay.
Còn Jacques và Nigro (1997) lại mâu thuẫn với Shrieves & Dahl (1992), họ lập luận rằng RWATA nắm bắt được sự phân bổ cũng như các khía cạnh chất lượng của rủi ro danh mục đầu tư, trong khi Avery và Berger (1991) lại lập luận rằng tỷ lệ này có tương quan tỷ lệ thuận với rủi ro. Jacques và Nigro (1997) và Rime (2001) hoàn toàn dựa vào RWATA, trong khi Aggarwal và Jacques (2001) sử dụng cả hai phương pháp với các thông số kỹ thuật riêng biệt. Theo phần lớn lý thuyết, tác giả bài viết chọn RWATA làm thước đo rủi ro. Lý do tác giả bài viết sử dụng tỷ lệ đòn bẩy và RWATA làm thước đo vốn và rủi ro là do: Theo yêu cầu vốn Basel I được xác định tổng vốn trên tổng tài sản có rủi ro.
Để tuân thủ với mức vốn tối thiểu theo quy định là 8% các ngân hàng có thể quản lý tử số và/hoặc mẫu số của tỷ lệ vốn Basel.