Chương 1 giới thiệu tổng thể về toàn bộ nội dung nghiên cứu của luận văn thông qua việc trình bày lý do và vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về tỷ lệ an toàn vốn, rủi ro ngân hàng, hiệu quả hoạt động và tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm chính về tác động của các yếu tố đến sự an toàn vốn của ngân hàng. Chương 3 đi vào xây dựng mô hình nghiên cứu, cách thức thu thập và xử lý số liệu, quy trình tiến hành nghiên cứu định lượng trong luận văn. Chương 4 mô tả kết quả nghiên cứu thực nghiệm, trình bày các kết luận về giả thuyết nghiên cứu và mức độ tác động của các yếu tố.
Chương 5 tổng kết kết quả nghiên cứu của luận văn, đề xuất các khuyến nghị, nêu ra những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp nối sau này. Trang 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về tỷ lệ an toàn vốn, rủi ro và hiệu quả hoạt động của NHTM. Nội dung chương đề cập đến tầm quan trọng của quy định mức vốn an toàn, hiệp ước Basel, cách xác định tỷ lệ an toàn vốn trên thế giới và tại Việt Nam. Chương 2 cũng nêu ra các loại rủi ro, cách xác định rủi ro và hiệu quả hoạt động.
Cuối cùng trong chương 2 là phần tóm tắt các nghiên cứu trước và so sánh sự khác biệt của nghiên cứu luận văn.1 Tỷ lệ an toàn vốn 2.1 Sự cần thiết của quy mô vốn tối thiểu trong ngân hàng Có rất nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về quy mô vốn tối thiểu. Tuy vấn đề này đang được đề cập liên tục trong suốt những thập niên gần đây do sự hội nhập toàn cầu về lĩnh vực tài chính ngân hàng nhưng đã có nhiều nghiên cứu trước đó nói về cấu trúc vốn. Moldigliani và Miller’s (1958) chỉ ra rằng trong thị trường hoàn hảo, cấu trúc vốn không liên quan đến giá trị công ty. Ngân hàng cũng được xem như là một công ty cổ phần, tổn thất của cổ đông giới hạn trong phần vốn góp nhưng lợi nhuận từ cổ phần có thể cao hơn khoản chi phí trả cho các khoản ngân hàng đi vay và trả cho người gửi tiền.
Trong thị trường hoàn hảo, mọi thông tin đều được công bố nên người gửi tiền, người cho vay sẽ đòi hỏi lãi suất tương đương với rủi ro. Nhiệm vụ của các nhà quản trị ngân hàng phải tối đa hóa giá trị ngân hàng để đảm bảo quyền lợi của cổ đông, chủ nợ và người gửi tiền. Tuy nhiên giá trị ngân hàng độc lập với cấu trúc vốn nên không cần phải có những quy định về cấu trúc vốn. Berger và Herring (1995) cho rằng quy định yêu cầu về vốn là do thị trường vì trong môi trường không có sự đảm bảo của chính phủ hoặc không có quy định về vốn, ngân hàng sẽ vẫn giữ một lượng vốn thiết yếu bởi vì thị trường khiến họ cần làm như thế để giải quyết những tổn thất không lường trước.
Đồng quan điểm với Berger và Herring (1995), De Bondt và Prast (2000) chỉ ra rằng nếu không có quy định về vốn, ngân hàng vẫn phải giữ một tỷ lệ vốn nhất định. Mặc dù cổ đông ngân hàng muốn thực hiện các dự án rủi ro với hy vọng nhận được tỷ suất sinh lời cao nhưng các cổ đông và các nhà quản trị ngân hàng cũng muốn ngăn chặn sự phá sản xảy đến. Vốn và rủi ro là vấn đề của ngân hàng trong việc không chỉ để thận trọng khi đưa ra những quyết định về vốn mục tiêu và tỷ suất Trang 6 sinh lợi tương ứng với rủi ro mà còn là trước những cú sốc nằm ngoài tầm khả năng kiểm soát của ngân hàng. Sharpe (1977) định nghĩa lượng vốn cần chính là chênh lệch giữa giá trị tài sản và các khoản tiền gửi, vì vậy tỷ lệ vốn/tài sản hoặc tỷ lệ vốn/tiền gửi càng lớn càng tạo an toàn cho những người gửi tiền, nghĩa là giá trị tài sản ngân hàng lớn.
Bởi vì vốn đủ nên những khoản tiền gửi được an toàn. Trong tương lai nếu giá trị tài sản ngân hàng có bị giảm nhẹ, khoản tiền gửi vẫn có thể được đảm bảo vì giá trị tài sản vẫn còn đủ lớn hơn giá trị khoản tiền gửi. Tuy nhiên, Barrios và Blanco (2003) chỉ ra việc quá thắt chặt yêu cầu về vốn khiến ngân hàng giảm cung cấp tín dụng, giảm hiệu quả kinh doanh. Họ cho rằng, đứng trên phương diện tổng thể xã hội, mức vốn tối ưu phải cân đối giữa lợi ích tổng thể (giảm nguy cơ phá sản và khả năng không trả được nợ của ngân hàng) và chi phí tổng thể (chi phí cơ hội của việc không đầu tư lượng vốn đó vào những cơ hội có tỷ suất lợi nhuận cao).
Những người đưa ra quy định về vốn có thể không xem xét được toàn bộ chi phí vì vậy sẽ áp dụng mức vốn nhiều hơn cần thiết. Các nhà nghiên cứu khác gồm Kahane (1977), Koehn và Santomero (1980), Kim và Santomero (1988), Hovakimian và Kane (2000) nhận định quy định về vốn chưa tạo được sự thúc đẩy trong quản trị giảm rủi ro. Koehn, Kim và Santomero đã kết luận rằng một chuẩn mực chặt chẽ về sự an toàn vốn không là một cách thay thế cho việc giám sát quản lý rủi ro. Bởi vì với quy định về vốn chặt chẽ, các nhà quản trị ngân hàng sẽ gia tăng các tài sản rủi ro hơn nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
Trong tình huống này, nhà quản trị chắc chắn xem xét đến mức độ đòn bẩy tài chính, vì để thỏa mãn việc gia tăng vốn theo quy định, đòn bẩy tài chính tất nhiên phải giảm nên dẫn đến việc đầu tư vào các tài sản rủi ro nhằm mang lại lợi nhuận cao. Bên cạnh đó chi phí đối với lượng vốn an toàn sẽ gia tăng do phải gia tăng vốn chủ sở hữu mà nguồn vốn chủ sở hữu có chi phí cao. Điều này sẽ làm lợi nhuận ngân hàng giảm hoặc ngân hàng đầu tư danh mục có lợi nhuận cao đi kèm rủi ro cao (Berger, 1995). Có thể thấy quy định về mức vốn an toàn cao không chắc chắn làm giảm xác suất tổn thất của ngân hàng.
Trái ngược với các quan điểm trên, các lý thuyết khác lại đưa ra quan điểm ủng hộ quy định về vốn tối thiểu của ngân hàng. Trang 7 Sự an toàn về vốn là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh và càng quan trọng hơn đối với ngân hàng khi sử dụng tiền của người khác để kinh doanh. Điều đó có nghĩa là ngân hàng phải có đủ vốn để cung cấp một tấm đệm an toàn, có khả năng chống đỡ được các tổn thất và cung cấp ngân quỹ cho những nhu cầu nội bộ hoặc mở rộng phát triển cũng như đảm bảo an toàn cho người gửi tiền và hệ thống bảo hiểm tiền gởi. Morrison và White (2001) cho rằng những quy định về vốn là hữu dụng trong việc giới hạn quy mô ngân hàng để tránh những vấn đề rủi ro.
Họ cũng đề nghị quy định về vốn có thể nới lỏng hơn trong các nền kinh tế mà báo cáo tài chính thể hiện được sự minh bạch. Dowd (1999) qua nghiên cứu của mình đã đưa ra kết luận rằng quy định vốn tối thiểu được xem là một phương pháp làm cho hệ thống ngân hàng được ổn định, khoản tiền gửi được an toàn. Chính phủ nên can thiệp vào hoạt động ngân hàng bằng cách thiết lập quy định về vốn. Không chỉ những người ban hành quy định về vốn mà những người gửi tiền cũng quan tâm đến sự ổn định của hệ thống tài chính.
Vì vậy các ngân hàng sẽ duy trì một mức vốn phù hợp để tối ưu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cũng như đảm bảo tuân thủ quy định về vốn. Mặc dù có những nghiên cứu thể hiện quan điểm trái ngược nhau về vai trò của quy mô vốn tối thiểu. Tuy nhiên không thể phủ nhận tầm quan trọng của việc ngân hàng phải duy trì một lượng vốn an toàn trong quá trình hoạt động. Thực tế đã chứng minh sự sụp đổ của ngân hàng mang tính hệ thống, vì vậy vốn của mỗi ngân hàng không thể bị bào mòn, sụt giảm và điều đó trở thành một quy định mà hiện nay phần lớn các quốc gia đều sử dụng đến quy định này để bảo vệ hệ thống tài chính kinh tế của nước họ.2 Hiệp ƣớc Basel về hệ số an toàn vốn Năm 1988, Ủy ban về giám sát ngân hàng Basel (được thành lập bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển - G10 - tại thành phố Basel, Thụy Sỹ) giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà được đề cập là Hiệp ước Basel.
Xuất phát của hệ thống đo lường vốn do từ những cuộc khủng hoảng về tiền tệ quốc tế và thị trường ngân hàng, đặt ra yêu cầu xây dựng một nền tảng so sánh hiệu quả hoạt động ngân hàng và đảm bảo hạn chế rủi ro trong hệ thống thanh toán Trang 8 liên ngân hàng toàn cầu là động lực dẫn tới sự ra đời của Hiệp ước Basel I. Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế. Mục tiêu của Hiệp ước nhằm quy định về lượng vốn cần thiết các ngân hàng phải đáp ứng. Hệ thống này đưa ra tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu 8% tính trên tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro (RWA).
Ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio) CAR > 10% là những ngân hàng có mức vốn tốt nhất, ngân hàng có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, ngân hàng thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2% với CAR được tính như sau: Basel I đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế về phân loại vốn của ngân hàng. Theo hiệp ước Basel, vốn ngân hàng được chia thành 2 cấp: - Vốn cấp 1 hay vốn cơ bản: là vốn sẵn có chắc chắn và các khoản dự phòng bao gồm vốn cổ phần thường, lợi nhuận bổ sung hàng năm, quỹ dự trữ. Với tính chất chắc chắn, vốn cấp 1 thể hiện sức mạnh tài chính của ngân hàng.