CHƯƠNG 1 C ơ SỞ L Ý LU Ậ N VỀ CẠNH TRA NH VÀ NẢNG Lực CẠNH TRANH CỦA N G Â N H À N G TH Ư Ơ N G M ẠI TRO NG TIÉN TRÌNH H Ộ I NHẬP K IN H TÉ QƯÓC TẾ 1. TỎNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Tổng quan về hội nhập kinh tế quốc tế 1. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế Trong nửa cuối thế kỉ XX và đặc biệt là trong thập kỉ 90, hội nhập kinh tế quốc tế (sau đây gọi tắt là hội nhập quốc tế) đã trở thành vấn đề thời sự trên toàn thế giới, hiện diện trong nhiều mặt đời sống kinh tế- xã hội ở hầu hết các quốc gia.
Chính sự tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia trên phạm vi toàn cầu đã làm xuất hiện thuật ngữ toàn cầu hoá. Thuật ngữ toàn cầu hoá, chỉ mức độ cao hơn của hội nhập kinh tế quốc tế, mới chỉ xuất hiện khoảng 2 thập niên gần đây, nhung xu hướng toàn cầu hoá kinh tế đã hình thành và phát triển qua một chặng đường lịch sử khá dài. Trên phương diện kinh tế, xu thế này bắt đầu vào thế kỷ thứ XVII với quá trình quốc tế hoá trong hoạt động buôn bán, trao đối hàng hoá, dịch vụ hay những nhân tố sản xuất giữa các đơn vị kinh tế riêng rẽ ở các quốc gia khác nhau và quá trình này bị chi phối bợi cung và cầu. Đây chính là thời kì đầu của CNTB và tiếp theo đó là thời kì phát triển của CNTB tự do cạnh tranh, mà đặc trưng của thời kì này là sự phát triển của xuất khẩu hàng hoá.
Kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, lưu thông vượt biên giới quốc gia và hình thành phân công lao động quốc tế, thì xu hướng quốc tế hoá trở thành tất yếu. Đại công nghiệp cơ khí, một mặt, tăng năng suất lao động, làm ra nhiều hàng hoá nên đòi hỏi nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ vượt ra khỏi phạm vi quốc gia; mặt khác tạo ra những phương tiện giao thông tối tân có khả năng vượt đại dương, xuyên lục địa, chuyển nguyên liệu từ xa về và chở hàng hoá đến khắp mọi nơi để trao đổi, hình thành thị trường thế giới. Thị trường thế giới lại thúc đẩy thương nghiệp, 8 hàng hải phát triển và tác động trở lại công nghiệp. Như vậy, chính sự phát triến sản xuất và tiêu dùng làm cho các dân tộc, các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào nhau hơn[65].
Hội nhập kinh tế quốc tế là một khái niệm đã xuất hiện trên thế giới từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhưng mới chỉ được nhắc đến nhiều trong một vài thập kỷ gần đây. Tuy nhiên, cho đến nay, thuật ngữ này vẫn còn được hiểu theo các cách khác nhau, nhưng cách hiểu phổ biến và được nhiều nước chấp nhận nhất là: “Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tỗ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có sự ràng buộc theo những qui định chung của khôryil]. Trong những năm cuối thế kỉ XX, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã tạo ra một bước ngoặt mới cho hội nhập kinh tế quốc tế. Công nghệ thông tin đã bao trùm hầu hết các lĩnh vực của đời sống nhân loại và về thực chất, nó là một hiện tượng kinh tế.
Chính sự tham gia ba nhân tố công nghệ- kĩ thuật, thông tin và tiền vốn lưu chuyển xuyên quốc gia đã trở thành động lực thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế trở thành quá trình toàn cầu hoá, làm cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế của các quốc gia khác. Vì vậy, toàn cầu hoá ngày nay là sản phẩm của văn minh nhân loại và do đó, là cơ hội để các quốc gia đón nhận, tự nguyện hội nhập và góp sức mình thúc đấy toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá hiện nay đang là một trong những chủ đề nhất thiết phải có trong mọi phân tích chính trị cũng như kinh tế. Tất cả mọi quyết định của các quốc gia đều phải được cân nhắc và xem xét trong trong tiến trình toàn cầu hoá: sản xuất, tiêu dùng, thương mại, tài chính, và cả việc làm, lối sống, kiến trúc, thậm chí cả thời trang, âm nhạc,.
Tuy nhiên, toàn cầu hoá lại là một khái niệm có tính trừu tượng cao và không ám chỉ một đối tượng cụ thể nào, mà có thể coi là một quá trình xã hội. Vì vậy, không dễ dàng đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh và được thừa nhận rộng rãi về toàn cầu hoá. Các tranh luận về toàn cầu hoá dù bao gồm nhiều ý kiến trái ngược nhau, đều không xa rời một điểm chung: Quá trình toàn cầu hoá được hiểu như là một sự tăng cường 9 các mối quan hệ qua lại. Sự tăng cường các mối quan hệ này có thể được chấm phá qua ba mệnh đề then chốt: phụ thuộc, dịch chuyến và tập trung.
Phụ thuộc để chỉ tác động của mối quan hệ giữa các hoạt động trên phạm vi toàn cầu lên các sự kiện địa phưcmg. Chẳng hạn như ảnh hưởng của việc sụt giá đồng đồng tiền của một quốc gia có thể tác động lên các thị trường chứng khoán quốc tế. Dịch chuyển để chỉ việc xê dịch trọng tâm các nơi thực hiện chức năng, rõ nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Chẳng hạn, hiện nay trong lĩnh vực kinh tế, các nước đã chuyển sản xuất tới những nơi, địa diêm, quốc gia thuận lợi về phát triển kinh tế, môi trường, pháp lí và thuế quan.
Từ thực tế này dẫn đến gia tăng nhu cầu về kiểm soát và điều phối, mà hướng giải quyết phổ biến là tập trung các chức năng kiểm soát và điều phối về một điếm, xuất hiện quá trình tập trung hóa trong mỗi mạng lưới của các hoạt động. Một ví dụ của quá trình này là sự xuất hiện hiện tượng các “thành phố toàn cầu” (global city) là nơi tập trung cao độ các hãng bảo hiểm, các ngân hàng, các dịch vụ tài chính, nhà đất, cố vấn pháp luật, kiêm toán và hiệp hội. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn toàn cầu hoá sử dụng trong nghiên cứu như sau: Toàn cầu hoá ỉà một quá trình, là giai đoạn phát triển mới của hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó khoảng cách địa lý không còn là nhân to quan trọng trong việc thiết lập và duy trì các mối liền hệ kinh tế, chính trị và văn hoá- xã hội bên ngoài ranh giới quốc gia. Những mạng lưới các mối liên hệ và phụ thuộc phức tạp trên tồn tại khắp nơi trên thế giới, vượt ra ngoài đường biên giới của các quốc gia.
Thực chất của quá trình toàn cầu hoá là sự phát triển khối lượng các dòng thương mại, tài chính và đầu tư quốc tế cùng với việc tăng cường các mối liên quan qua lại lẫn nhau, khi sự phát triển mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế được xác định, không phải do sự tác động của các nhân tố ở từng vùng, từng quốc gia riêng lẻ, mà là của cả toàn thế giới nói chung. Đ ặc tru n g cơ bản của h ộ i nhập kin h tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kì bùng nố công nghệ thông tin có những đặc trưng cơ bản sau[l]: 10 Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế được biểu hiện nôi bật ở sự lưu chuyến xuyên quốc gia của các dòng tiền vốn. Đó chính là toàn cầu hoá về tài chính, là đặc trưng nối bật chi phối các quá trình tự do hoá về thương mại, dịch vụ và đầu tư đã kết với nhau thành một mạng trên qui mô toàn cầu. Nhờ sự trợ giúp của công nghệ thông tin, khoảng 95% nền kinh tế tài chính thế giới đã nằm trong một thế giới "ảo", vận động trên các xa lộ thông tin; tiến trình nhất thể hoá tiền tệ sẽ tăng nhanh, hình thành các đồng tiền chung của các khu vực; hoạt động ngân hàng sẽ phát triển dựa trên và thúc đẩy sự phát triển của công nghệ thông tin.
Với đặc trưng này, chính sách tài chính- tiền tệ của Chính phủ các quốc gia phải hành động theo hướng, vừa giảm bớt sự can thiệp vào hoạt động của các dòng vốn, vừa phải ứng phó kịp thời, linh hoạt và hiệu quả với các sự kiện xuất hiện trên thị trường tài chính, nhằm đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế đã đặt ra. Đặc trưng này cũng tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới, tăng nhanh vòng quay vốn và tạo điều kiện để đa dạng hoá các loại hình đầu tư. nhờ đó vừa nâng cao hiệu quả vừa hạn chế rủi ro đầu tư. Ngược lại, chính sự liên thông của các thị trường tài chính quốc gia trong thời đại hội nhập và toàn cầu hoá là kênh truyền tải, lây lan rủi ro từ một tổ chức/ quốc gia ra phạm vi lãnh thố/ khu vực/ toàn cầu một cách nhanh chóng nhất.
Thế kỷ XX và ngay những năm đầu của thế kỷ XXI đã chứng kiến sự bất ổn từ một lĩnh vực của một định chế lây lan ra phạm vi quốc gia và nhanh chóng biến thành một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tác động đến mọi quốc gia và người dân trên toàn thế giới. Chính đặc điểm này của hội nhập quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải hành động cùng một hướng khi có bất ổn tài chính xảy ra, dù đó là ở quốc gia/ khu vực nào và phải tuân theo chuẩn mực thống nhất về đảm bảo an toàn, về kế toán, kiểm toán,. để có thể đánh giá, so sánh giữa các quốc gia trên một “thước đo” chung. Thứ hai, trong nền kinh tế toàn cầu, quản lí vĩ mô, dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, trở thành yếu tố có tính chất quyết định tương lai phát triển của nó.
Như vậy, tính chất xã hội sản xuất qui mô lớn trên phạm vi toàn cầu, xác lập vai trò quyết định và năng động của công tác quản lí. Vì vậy, toàn cầu hoá thúc đấy quá trình chuyến giao công nghệ, chuyển giao vốn, kỹ năng quản lý, qua đó mở rộng địa bàn đầu tư cho 11 các nước phát triển, đồng thời giúp các nước tiếp nhận đầu tư có thêm nhiều cơ hội phát triển.