CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG 1. Vị trí, vai trò của khả năng cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng ở nước ta. Hệ thống tài chính ngân hàng của bất kì một quốc gia nào đều chiếm một vị trí hàng đầu và có vai trò cực kì quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia đó - hệ thống ngân hàng có thể ví như là xương sống để phát triển các ngành kinh tế khác. Tại bất kỳ quốc gia nào có ngành ngân hàng phát triển cũng thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác liên quan.
Chính vì vậy, khả năng cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng không chỉ có ý nghĩa đối với ngành ngân hàng nói riêng mà còn có ý nghĩa với toàn bộ nền kinh tế của quốc gia đó. Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập, theo tinh thần Nghị quyết 07- NQ/ TW của Bộ Chính Trị về hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức , có uy tín với khách hàng, hoạt động có hiệu quả, an toàn, nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước. Do vậy, đánh giá năng lực cạnh tranh của các NH tại VN có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong định hướng phát triển của ngành ngân hàng. Việc nhận thức đúng tầm quan trọng của cạnh tranh trong kinh doanh cũng như việc nhận thức đúng vị thế cạnh tranh của các NH VN càng thúc đẩy ngành ngân hàng phát triển.
Mặc dù đã được Nhà nước xem như một vấn đề cấp bách cần giải quyết và dù công cuộc cải cách kinh tế ở nước ta trong những năm gần đây đạt được nhiều tiến bộ được quốc tế công nhận nhưng việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành NH tại VN vẫn bị đánh giá là chậm so với việc đổi mới của nền kinh tế. Điều đó được thể hiện qua năng lực cạnh tranh của Hệ thống Tài chính-Ngân hàng còn quá thấp so với Thế giới cũng như trong khu vực (đánh giá năng lực cạnh tranh của hệ thống tài chính - ngân hàng ở VN năm 2000, trong 59 nước được xếp hạng thì VN đứng thứ 58, chỉ trên có Indonexia) [Trích bài viết của tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh - Vụ Chính sách Tiền tệ - NHNN năm 2003 trong Hội thảo Khoa học tại Hà Nội]. Nhận định này dựa trên cơ sở xem xét một số tiêu chí đánh giá mức độ, qui mô phát triển và năng lực chu chuyển vốn của hệ thống ngân hàng. Trang 5 Việc nâng cao khả năng cạnh tranh trong ngành ngân hàng hiện nay là rất khó khăn, đó là do: nhận thức của con người về cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng còn thấp và tiềm lực ngành NH của chúng ta còn yếu so với các NH trong khu vực.
Đây có thể nói là một thách thức lớn đối với hệ thống ngân hàng trong quá trình hội nhập. Khái niệm cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của một tổ chức.1 Khái niệm về cạnh tranh. “Cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế”. Một doanh nghiệp được xem là có sức cạnh tranh khi nó có thể thường xuyên đưa ra các sản phẩm thay thế, mà các sản phẩm này có mức giá thấp hơn so với các sản phẩm cùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hay tốt hơn.
Nhìn chung khi xét đến tính cạnh tranh của một doanh nghiệp ta cần phải xét đến tiềm năng sản xuất một loại sản phẩm hàng hóa hay sản phẩm dịch vụ nào đó ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà không cần đến các yếu tố trợ giúp.2 Các yếu tố góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh là một trong những thế mạnh mà doanh nghiệp có hoặc có thể huy động để có thể cạnh tranh thắng lợi. Để có thể tạo được lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần nghiên cứu các vấn đề như: -Nguồn gốc sự khác biệt: So với đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp có gì vượt trội hơn về mặt giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, chất lượng sản phẩm dịch vụ, mạng lưới phân phối. -Doanh nghiệp có thế mạnh gì về cơ sở vật chất, nhà xưởng, trang thiết bị kỹ thuật.
-Khả năng phát triển sản phẩm mới, đổi mới dây chuyền công nghệ, hệ thống phân phối. -Chất lượng sản phẩm. -Khả năng đối ngoại: khả năng liên doanh với các doanh nghiệp khác hoặc liên doanh với nước ngoài, hoặc sử dụng sự trợ giúp của các tổ chức trong cạnh tranh. Trang 6 -Khả năng tài chính: Khả năng của doanh nghiệp trong việc quản lý chi phí, huy động vốn và thanh toán các nghĩa vụ tài chính.
-Sự thích nghi của tổ chức: Tổ chức của doanh nghiệp có mềm dẻo để thích ứng với sự thay đổi của môi trường không? Hệ thống quyền lực lãnh đạo và tổ chức hành chính có thích hợp với các qui tắc trong lĩnh vực hoạt động không? -Khả năng tiếp thị: Nhiều doanh nghiệp thành công nhờ vào việc cố gắng cung cấp nhiều giá trị hơn cho khách hàng bằng cách tập trung thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng, phát triển sản phẩm mới, nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ và phân phối sản phẩm. Các doanh nghiệp Việt Nam ít khi nhận ra tầm quan trọng của việc tập trung vào khách hàng và tiếp thị sản phẩm của mình. Một số doanh nghiệp gần như hoàn toàn thụ động trong tiếp cận thị trường và định hướng chiến lược khách hàng.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Theo Micheal Porter thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp gồm bốn yếu tố : (1) Các yếu tố của bản thân doanh nghiệp: Bao gồm các yếu tố về con người: chất lượng, kỹ năng; các yếu tố về trình độ như khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm thị trường; các yếu tố về vốn. Các yếu tố này có thể chia thành 2 loại: một là các yếu tố cơ bản như: môi trường tự nhiên, địa lý, lao động; hai là các yếu tố nâng cao như: thông tin, lao động có trình độ cao… Trong đó, yếu tố thứ hai có ý nghĩa quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chúng quyết định những lợi thế cạnh tranh ở độ cao và những công nghệ có tính độc quyền. Trong dài hạn thì đây là yếu tố có tính quyết định, phải được đầu tư một cách đầy đủ và đúng mức. (2) Nhu cầu của khách hàng: đây là yếu tố có tác động rất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp. Thông qua nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp có thể tận dụng được lợi thế theo quy mô, từ đó cải thiện các hoạt động kinh doanh và dịch vụ của mình.
Nhu cầu của khách hàng còn có thể gợi mở cho doanh nghiệp để phát triển các loại hình sản phẩm và dịch vụ mới. Các loại hình này có thể được phát triển rộng rãi ra thị trường bên ngoài và khi đó doanh nghiệp là người trước tiên có được lợi thế cạnh tranh. (3) Các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ: sự phát triển của doanh nghiệp không thể tách rời sự phát triển các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ như: thị trường tài chính, sự phát triển của công nghệ thông tin…Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin, các ngân hàng có thể theo dõi và tham gia vào thị trường tài chính 24/24 giờ trong ngày. Trang 7 (4) Chiến lược của doanh nghiệp, cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh : sự phát triển các hoạt động doanh nghiệp sẽ thành công nếu được quản lý và tổ chức trong một môi trường phù hợp và kích thích được các lợi thế cạnh tranh của nó.
Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ là yếu tố thúc đẩy sự cải tiến và thay đổi nhằm hạ thấp chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ. Trong 4 yếu tố trên, yếu tố (1) và (4) được coi là yếu tố nội tại của doanh nghiệp, yếu tố (2) và (3) là những yếu tố có tính chất tác động và thúc đẩy sự phát triển của chúng. Ngoài ra còn hai yếu tố mà doanh nghiệp cần tính đến là những cơ hội và vai trò của Chính phủ. Vai trò của chính phủ có tác động tương đối lớn tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhất là trong việc định ra các chính sách về công nghệ, đào tạo, trợ cấp.
Trong khuôn khổ luận văn này, tôi chỉ xin phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên 2 yếu tố (1) và (4), tức chỉ đào sâu phân tích cho các yếu tố nội tại của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh, để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các NHTM khác. Để đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam, người ta có thể dựa vào ba nhóm chỉ tiêu sau đây: (1) Nhóm chỉ tiêu cấu thành năng lực cạnh tranh của NHTM: bao gồm Các chỉ tiêu đánh giá năng lực quản lý, phát triển nguồn nhân lực Các chỉ tiêu đánh giá năng lực công nghệ ngân hàng Các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính, mức độ rủi ro hoạt động Các chỉ tiêu phản ánh phạm vi, chất lượng sản phẩm - dịch vụ, uy tín, giá trị thương hiệu Các chỉ tiêu đánh giá năng lực hệ thống và mạng lưới phân phối.
(2) Nhóm các chỉ tiêu phản ánh cơ chế, chính sách sử dụng và phát triển các lợi thế so sánh của một NHTM: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu lực và hiệu quả của chính sách phát triển và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu lực, hiệu quả và mức độ an toàn của chính sách phát triển công nghệ ngân hàng. Trang 8 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu lực và hiệu quả của chính sách phát triển và sử dụng hợp lý năng lực tài chính Các chỉ tiêu phản ánh hiệu lực và hiệu quả của chính sách phát triển và sử dụng hợp lý hệ thống phân phối sản phẩm – dịch vụ.