CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về tái cấu trúc 1. Khái niệm Trước hết, tái cấu trúc, theo nghĩa hẹp, được hiểu là quá trình tổ chức lại một tổ chức nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho tổ chức đó để thực hiện những mục tiêu đề ra. Một chương trình tái cấu trúc có thể diễn ra một cách toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực như cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành; các hoạt động và các quá trình; các nguồn lực khác của tổ chức tái cấu trúc.
Tái cấu trúc cũng có thể được triển khai một phần tại một hay nhiều mảng trong tổ chức như tài chính, nhân sự, sản xuất… nhằm đạt mục tiêu là nâng cao “thể trạng” của bộ phận đó. Suy rộng cho một hệ thống có nhiều tổ chức, tái cấu trúc là sắp xếp, tổ chức lại cơ cấu thành phần các tổ chức trong hệ thống, hoặc thay đổi cách quản lý, cách hoạt động của các tổ chức bộ phận nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động, thực hiện những mục tiêu thống nhất của hệ thống. Theo Margery Waxman et al. 1998, WB, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là các gói giải phápvề thể chế, tài chính và pháp lý nhằm cứu vãn những ngân hàng phá sản và khôi phục hệ thống ngân hàng trở lại hoạt động bình thường.
Theo Claudia Dziobek và Ceyla Pazarbasioglu 1998, IMF, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng nhằm mục đích cải thiện hiệu quả của ngân hàng, có nghĩa là phục hồi khả năng thanh toán và lợi nhuận, nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng để thực hiện chức năng trung gian tài chính giữa người gửi tiết kiệm và người đi vay, đồng thời khôi phục lòng tin của công chúng. Dù diễn đạt theo cách nào thì có thể thấy việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng liên quan đến việc thay đổi, sửa chữa các sai lầm trong cấu trúc hệ thống ngân hàng, đưa hệ thống vào cơ chế hoạt động hợp lý và có hiệu quả; làm tăng khả năng tiếp cận của người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với các dịch vụ của ngân 3 hàng, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển lành mạnh của hệ thống nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Như vậy, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là một quá trình lâu dài, bao gồm nhiều biện pháp pháp lý, thể chế và tài chính được triển khai theo từng bước, từ những biện pháp khẩn cấp lấy lại lòng tin, đảm bảo thanh khoản đến việc tạo dựng những cơ chế xử lý những ngân hàng đổ vỡ và giải quyết tài sản tồn đọng. Đối tượng của việc tái cơ cấu có thể là cả hệ thống ngân hàng hoặc cá thể các ngân hàng ở tất cả các loại hình như ngân hàng nhà nước (NHNN), ngân hàng thương mại (NHTM), ngân hàng có vốn đầu tư trong nước, ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài… 1.
Nguyên nhân của tái cấu trúc: Một nền kinh tế chỉ có thể khỏe mạnh khi được sự hỗ trợ của một hệ thống ngân hàng khỏe mạnh. Trước diễn biến của khủng hoảng tài chính toàn cầu và các khó khăn nội tại của nền kinh tế thì việc tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng một cách toàn diện là việc làm cần thiết. Nếu hệ thống ngân hàng rơi vào khủng hoảng sẽ kéo theo nguy cơ khủng hoảng kinh tế xã hội hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủng hoảng có nguy cơ lan rộng ra toàn hệ thống. Nền kinh tế của một quốc gia khó có thể phát triển ổn định và lành mạnh khi hệ thống ngân hàng tiềm ẩn nhiều bất ổn và hoạt động kém hiệu quả.
Nhu cầu tái cấu trúc trở nên cần thiết khi hiện trạng của các ngân hàng gặp phải nhiều vấn đề trong cơ cấu, hoạt động khiến ngân hàng hoạt động không hiệu quả; thậm chí trì trệ, vốn yếu, thiếu hụt thanh khoản và chất lượng tài sản suy giảm đứng trước nguy cơ tan rã, phá sản,… những vấn đề trên xuất phát từ những yếu kém nội tại của hệ thống ngân hàng. Nhiều nguyên nhân là do cơ cấu sai, không hợp lý, kém hiệu quả, cụ thể: không xác định được chiến lược và kế hoạch, đội ngũ lãnh đạo làm việc không hiệu quả, cơ cấu tài chính chưa phù hợp, chưa chuẩn mực và thiếu các hệ thống, công cụ kiểm soát rủi ro cần thiết, quản trị nguồn nhân sự yếu kém, sự phối hợp hoạt động không hiệu quả do cơ cấu chưa hợp lý, hoặc tính yếu kém của hệ thống ngân hàng… Ví dụ như sự phát triển nhanh chóng, dễ dãi trong việc thành lập ngân hàng cũng như việc mở rộng mạng lưới chi nhánh, các ngân hàng không có đủ lực lượng quản lý 4 được đào tạo bài bản về quản trị ngân hàng, điều này dễ dẫn đến các vụ lừa đảo, thất thoát tài sản; đặc biệt, tình trạng thiếu minh bạch trong báo cáo tài chính bao gồm giấu hoặc chuyển lỗ, không hạch toán đúng chi phí dự phòng tín dụng, đúng các khoản chi phí và thu nhập… gây sức ép lên nền kinh tế, buộc chính phủ phải tìm cách tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thông qua tái cơ cấu các ngân hàng và các định chế tài chính. Nếu không sàng lọc và tái cấu trúc sớm, các vụ đổ vỡ hàng loạt trong hệ thống TCTD có thể xảy ra và sẽ khó kiểm soát. Bên cạnh đó còn các yếu tố từ các chính sách điều tiết kinh tế mang tính chất vĩ mô kém hiệu quả, khả năng dự báo yếu dẫn đến việc điều tiết không kịp thời; các quy định về chính sách sai lệch, không chặt chẽ cũng sẽ làm cho hệ thống ngân hàng hoạt động không hiệu quả.
Ví dụ như khi nền kinh tế tăng trưởng cao, nếu chính phủ khuyến khích các ngân hàng gia tăng tín dụng mà không có chính sách kiềm chế hợp lý thì điều này sẽ dẫn đến các ngân hàng dễ dãi trong việc cho vay dẫn đến tăng tỷ lệ nợ xấu và nợ không hiệu quả (NPL), gây ra mất thanh khoản cho ngân hàng, từ đó có thể ảnh hưởng đến toàn hệ thống 1. Mục tiêu của tái cấu trúc: - Thứ nhất, duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, đảm bảo khả năng thanh khoản, chi trả và hoạt động của các trung gian tài chính không bị đình trệ. Đây là mục tiêu cơ bản nhất của việc tái cấu trúc nhằm bảo đảm tính ổn định trong hoạt động của hệ thống ngân hàng và của cả nền kinh tế. - Thứ hai, giải quyết các vấn đề một cách kịp thời nhằm ngăn ngừa sự lây lan hoặc các vấn đề hệ thống.
- Thứ ba, khôi phục lại niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng. Khi hệ thống ngân hàng được cơ cấu lại, tính thanh khoản của cả hệ thống ổn định, mức độ tín nhiệm của ngân hàng được nâng cao sẽ tạo lòng tin của các thành phần kinh tế đối với hệ thống ngân hàng. - Thứ tư, tối thiểu hóa chi phí tái cấu trúc đối với NHTW, bảo hiểm tiền gửi hay chính phủ. Song song với những mục tiêu củng cố sức mạnh cho hệ thống ngân hàng thì việc tái cơ cấu cũng nhằm mục đích giảm thiểu tới mức nhỏ nhất các chi phí liên quan 5 đến NHTW, bảo hiểm tiền gửi hay chính phủ, để mang lại hiệu quả cao nhất cho quá trình tái cấu trúc.
Điều kiện để tái cấu trúc thành công Việc cơ cấu lại chỉ thực sự cần thiết khi hoạt động của các TCTD đi chệch khỏi chức năng cơ bản của chúng trong nền kinh tế hoặc có những trục trặc nảy sinh gây mất an toàn hoặc nguy cơ đổ vỡ có tính hệ thống. Việc tái cấu trúc cần nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau và cần trả lời được câu hỏi tại sao phải tái cấu trúc, tái cấu trúc khía cạnh nào, các ngân hàng sẽ hoạt động như thế nào sau quá trình tái cấu trúc, các ngân hàng sẽ xử lý các khoản nợ xấu như thế nào… Điều quan trọng của quá trình tái cấu trúc là phải thiết lập được một bộ tiêu chí rõ ràng, đưa ra những kỷ luật của thị trường, kỷ cương của nhà nước cần được triển khai thận trọng trên nguyên tắc tự nguyện với lộ trình và bước đi cụ thể, thích hợp. Phải nhìn vào từng trường hợp rõ ràng để tìm ra giải pháp. Phải có một khuôn khổ pháp lý phù hợp để cho phép chính phủ có thể can thiệp nhằm đảm bảo rằng hệ thống bảo hiểm tiền gửi có đủ vốn để xử lý khủng hoảng và có thể được sử dụng một cách nhanh chóng và hiệu quả, bên cạnh đó là can thiệp vào các ngân hàng mất khả năng thanh toán, quá trình can thiệp của Chính phủ sẽ làm nảy sinh một số vấn đề về pháp lý liên quan đến việc nắm giữ cổ phần của các cổ đông hiện tại vì thế cần có luật tương ứng để điều chỉnh.
Ví dụ khi chính phủ bơm vốn vào cho một ngân hàng và nếu muốn các cổ đông hiện tại phải rút bớt cổ phần tương ứng để Chính phủ trở thành cổ đông chính và có quyền bổ nhiệm người của mình vào các vị trí quản lý thì cần phải có một luật cho phép Chính phủ làm như vậy nếu họ không tự nguyện xin rút. Hoặc đối với ngân hàng có nợ xấu lớn hoặc thiếu vốn nghiêm trọng nếu không thể tự củng cố thì NHNN sẽ đứng ra góp vốn hoặc có thể sáp nhập vào các ngân hàng khác. Đồng thời phải đảm bảo việc sáp nhập này sẽ giúp các ngân hàng phát triển tốt hơn và không gây xáo trộn hệ thống. Đây là quá trình phức tạp, do đó, vai trò của NHNN phải được thể hiện mạnh mẽ, và những việc can thiệp đó phải được thực hiện nhanh chóng và kịp thời (nhân tố không 6 quan trọng, liên quan đến giải pháp).
Chính phủ phải có được một quy trình toàn diện để theo dõi và đánh giá liên tục tình trạng nợ xấu và mất thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, tránh tình trạng bị động. Các cán bộ thanh tra giám sát cần phải được đào tạo trang bị các kỹ năng để thực thi các luật định và các nhà quản lý, các cơ quan giám sát phải được tiếp cận với các thông tin một cách đầy đủ, chính xác kịp thời, để đảm bảo việc tái cấu trúc hiệu quả, minh bạch và điều chỉnh kịp thời. Lý luận chung về mô hình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại 1.