CHƯƠNG 1 HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ VẤN ĐỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về ngân hàng 1. Khái niệm về ngân hàng Cho đến hiện nay vẫn có nhiều cách diễn giải khác nhau để định nghĩa thế nào là Ngân hàng mà không có một định nghĩa nào được coi là duy nhất. Đơn giản chỉ vì Ngân hàng không còn là một tổ chức độc quyền cung cấp các dịch vụ có liên quan đến loại hàng hoá đặc biệt là tiền tệ nữa, mà có rất nhiều các tổ chức tài chính khác cũng cung cấp các dịch vụ tương tự như ngân hàng.
Do đó để có một định nghĩa duy nhất về ngân hàng nhằm phân biệt ngân hàng với các tổ chức tài chính khác thực sự không dễ. Để có khái niệm cơ bản về ngân hàng, có lẽ cần phải hiểu Ngân hàng từ các diễn giải khác nhau tùy thuộc vào quan điểm, cách nhìn về vị trí, chức năng của ngân hàng. Nói chung, ngân hàng theo truyền thống là một định chế tài chính cung cấp 2 loại dịch vụ chính cho công chúng là nhận tiền gửi và cho vay trực tiếp đến các doanh nghiệp, cá nhân và các định chế tài chính khác. Ở Anh, Ngân hàng được coi là một tổ chức, bằng hoạt động của mình tiến hành thu nhận vốn dưới hình thức tiền gửi và cấp tín dụng cho các cá nhân và doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng giải thích “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”[25] trong đó “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”[ 25]. Ở Mỹ Ngân hàng được định nghĩa trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Theo đó, ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Ở Pháp, ngân hàng là các pháp nhân thực hiện một cách thường xuyên, chuyên nghiệp các hoạt động bao gồm nhận tiền gửi của công chúng, các hoạt động tín dụng cũng như cung ứng hoặc quản lý các phương tiện thanh toán cho khách hàng.
Một số nhà kinh tế châu Âu định nghĩa ngân hàng là một trung gian tài chính huy động quỹ thông qua những khoản tiền gửi có hoàn trả theo yêu cầu và dùng chúng để ứng trước bằng thấu chi hoặc các khoản vay, chiết khấu hối phiếu. Còn có những định nghĩa khác nữa về ngân hàng, chẳng hạn như vào thập niên 80 của thế kỷ 20 Quốc hội Mỹ đã định nghĩa ngân hàng như một công ty thành viên của Công ty bảo hiểm liên bang, do nhìn nhận ngân hàng trên cơ sở xem xét cơ quan Chính phủ nào bảo hiểm cho nó. Sự nhìn nhận này có được là do quá trình thay đổi về mặt pháp lý trong quản lý ngân hàng, song những định nghĩa không mang tính phổ quát như vậy hầu như không được nhắc đến trong các tài liệu viết về ngân hàng. Tuy có nhiều cách diễn giải khác nhau để làm rõ khái niệm về ngân hàng nhằm phân biệt ngân hàng với các định chế tài chính khác, nhưng điểm chung nhất mà các định nghĩa khác nhau đều đề cập đến, đặc biệt định nghĩa về ngân hàng hiện đại, là chỉ có ngân hàng mới thực hiện các khoản cho vay và bán ra những tài khoản thanh toán, ngoài những dịch vụ tài chính giống như các định chế tài chính khác cũng thực hiện.
Như vậy, có thể hiểu ngân hàng là một định chế tài chính cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, trong đó nghiệp vụ cơ bản và truyền thống là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và thực hiện dịch vụ thanh toán. Các chức năng cơ bản của ngân hàng 1. Chức năng của ngân hàng Trung ương Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) là một tổ chức vừa thực hiện vai trò quản lý nhà nước về kinh doanh tiền tệ và hoạt động ngân hàng, vừa thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng cho các NHTM và cho chính mình, với mục đích chính là thông qua các hoạt động kinh doanh đó điều khiển, kiểm soát các hoạt động của cả hệ thống ngân hàng, đảm bảo gía trị đồng tiền trong nước, ổn định lưu thông tiền tệ. NHTƯ có chức năng: - Là ngân hàng phát hành - thể hiện ở việc NHTƯ độc quyền phát hành tiền.
Việc phát hành tiền của NHTƯ có tác động trực tiếp đến tình hình lưu thông tiền tệ, do đó hoạch định và thực thi một chính sách tiền tệ đúng đắn để đảm bảo lưu thông tiền tệ phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền quốc gia là một công việc quan trọng của NHTƯ. - Là ngân hàng của các ngân hàng. Trên cơ sở độc quyền phát hành tiền NHTƯ thực hiện việc cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế thông qua hoạt động cấp tín dụng cho các NHTM và kiểm soát khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế từ tín dụng “tạo tiền” của của các NHTM. Ngoài ra, NHTƯ cũng giữ vai trò điều chỉnh hoạt động kinh doanh ngân hàng, sao cho những hoạt động này phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế trong từng giai đoạn.
Chức năng này của NHTƯ được thực hiện thông qua cơ chế nghiệp vụ cấp tín dụng, với vị trí là người cho vay cuối cùng, quản lý tiền gửi dự trữ bắt buộc, tiền gửi thanh toán, tổ chức thanh toán cho các NHTM. - Nếu Ngân hàng trung ương là ngân hàng trực thuộc Chính phủ thì nó có thêm chức năng là ngân hàng của nhà nước, thể hiện: NHTƯ thuộc sở hữu nhà nước, phục vụ cho kho bạc nhà nước, thay mặt Chính phủ quản lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ, ngân hàng, quản lý dự trữ quốc gia, đại diện cho Chính phủ tại các tổ chức Tài chính-Tiền tệ quốc tế, tư vấn cho Chính phủ và tham gia vào quá trình hoạch định chính sách liên quan đến tài chính- tiền tệ… Với các chức năng trên, NHTƯ có tác động đến toàn bộ hoạt động cơ bản nhất của các NHTM như huy động vốn, hoạt động tín dụng, thanh toán, ngoại hối…. Sự tác động này có được là do uy quyền được đặt định cho NHTƯ khi mới hình thành và do chính khả năng điều hành của NHTƯ. Trong quá trình đó NHTƯ không chỉ là người kiểm soát hoạt động của các NHTM mà còn là người hỗ trợ tích cực để các NHTM hoạt động an toàn và hiệu quả.
Chức năng của ngân hàng thương mại Khi so sánh hoạt động của ngân hàng với các định chế tài chính trung gian khác, thì ngân hàng được thừa nhận là định chế tài chính trung gian điển hình, góp phần tạo nên sự lưu thông của các nguồn vốn trong nền kinh tế một cách có hiệu quả nhất. Theo đà phát triển kinh tế xã hội, những chức năng của định chế tài chính này ngày càng được mở rộng, do đó có nhiều cách trình bày khác nhau về các chức năng chính của NHTM. Tuy nhiên, các chức năng chủ yếu của ngân hàng hiện đại, được trình bày trên nhiều tài liệu viết về ngân hàng hiện nay, theo luận án là hợp lý. Các chức năng đó bao gồm: • Chức năng trung gian tín dụng - là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM, có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển kinh doanh ngân hàng.
Khi thực hiện chức năng này, ngân hàng là người đứng giữa các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế để chuyển nguồn vốn tạm thời dư thừa và thiếu hụt giữa họ với nhau, biến tiền nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện tích lũy trở thành nguồn vốn lớn của nền kinh tế. Kết quả là, ngoài lợi ích mà ngân hàng thu được thì hoạt động này đã mang lại lợi ích lớn hơn cho nền kinh tế cũng như các cá nhân vì họ có thể có được cơ hội đầu tư ngay cả khi có món tiền nhỏ, hoặc nhận được một khoản vốn đầu tư đủ lớn để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh trong khi các chi phí thông tin, chi phí giao dịch để có thể đầu tư hoặc nhận vốn vay được giảm bớt đáng kể so với việc tự mình tìm kiếm nguồn vốn nhỏ, lẻ…và nền kinh tế sẽ phát triển nhờ có được sự đầu tư thỏa đáng. Chức năng trung gian tín dụng của NHTM được thể hiện cụ thể qua hai nhiệm vụ cơ bản là: - Thu nhận các khoản tiền gửi từ các tổ chức và cá nhân dưới nhiều hình thức khác nhau theo nguyên tắc có hoàn trả. Thông qua hoạt động này, hệ thống ngân hàng tập trung được các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, và nhờ đó các ngân hàng có điều kiện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ khác của mình, như chức năng trung gian thanh toán, cấp tín dụng… - Cho các tổ chức và cá nhân vay vốn theo nguyên tắc có hoàn trả.
Thông qua hoạt động này tiền vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế đã được đưa vào sử dụng, góp phần to lớn vào việc phát triển kinh tế của các quốc gia. • Chức năng trung gian thanh toán – Khi thực hiện quản lý tiền, tài sản của khách hàng Ngân hàng có điều kiện thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán để hoàn tất các quan hệ kinh tế, thương mại trong và ngoài nước…giữa các khách hàng với nhau dựa trên lệnh trả tiền qua tài khoản của khách hàng có nhu cầu. Khi thực hiện chức năng thanh toán, ngoài việc Ngân hàng có cơ hội tăng thêm nguồn vốn để cho vay thì đây còn là yếu tố duy nhất để phân biệt một tổ chức tài chính là ngân hàng với một tổ chức tài chính phi ngân hàng. Do không thực hiện chức năng trung gian thanh toán nên các tổ chức tài chính phi ngân hàng không thể tạo ra tiền, trong khi các ngân hàng nhờ vào chức năng này đã tạo ra tiền gửi làm tăng tổng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế, đồng thời làm giảm bớt khối lượng tiền mặt trong lưu thông, gián tiếp tác động đến việc điều hòa lưu thông tiền tệ do thay đổi cấu trúc của tổng phương tiện thanh toán.