CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Theo nhà kinh tế học Paul Samuelson: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”. Theo từ điển Thuật ngữ kinh tế học: “Cạnh tranh là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn, hay quốc gia.
Cạnh tranh nảy sinh khi hai hay nhiều bên cố giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được”. Lợi thế cạnh tranh Adam Smith, lợi thế cạnh tranh dựa trên lý thuyết tuyệt đối về năng suất lao động, năng suất lao động cao có nghĩa là chi phí sản xuất giảm, muốn tăng năng suất lao động thì phải phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất. Theo David Ricardo, lợi thế cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối, mà còn phụ thuộc vào cả lợi thế tương đối, tức là lợi thế so sánh và nhân tố quyết định tạo nên lợi thế cạnh tranh vẫn là chi phí sản xuất nhưng mang tính tương đối. Theo Michael Porter, lợi thế cạnh tranh trước hết dựa vào khả năng duy trì một chi phí sản xuất thấp và sau đó là dựa vào sự khác biệt hóa sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh như chất lượng sản phẩm dịch vụ, mạng lưới phân phối, cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật.
-4- Tóm lại, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo được lợi ích kinh tế với hiệu quả cao đối thủ cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) và Viện quản trị quốc tế (IMD), trong cuốn sách “Cạnh tranh quốc gia năm 1994”, định nghĩa cạnh tranh như sau: Năng lực cạnh tranh là khả năng mà một quốc gia hay một công ty tạo được nhiều phúc lợi hơn so với đối các thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới. Họ cũng đã xây dựng công thức: Năng lực cạnh tranh của một quốc gia = các tài sản cạnh tranh x quá trình cạnh tranh. Theo báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2008-2009 của WEF, Năng lực cạnh của một quốc gia là một hệ thống các thể chế, chính sách và các yếu tố xác định mức độ hiệu quả của một quốc gia.
Mức độ hiệu quả là một hệ thống mức độ thịnh vượng ổn định có thể tạo ra bởi nền kinh tế. Mặt khác, khuynh hướng các nền kinh tế cạnh tranh mạnh hơn có thể sản xuất ra mức thu nhập cao hơn cho công dân của họ. Mức độ hiệu quả cũng được xác định bởi tỷ lệ hoàn vốn khi đầu tư vào nền kinh tế. Bởi vì, tỷ suất hoàn vốn là yếu tố cơ bản cho sự phát triển của nền kinh tế, một nền kinh tế cạnh tranh là nền kinh tế tăng trưởng cao hơn mức trung bình trong dài hạn.
Tóm lại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra phúc lợi cao hơn mức trung bình xét trong dài hạn, trong một điều kiện nhất định. Cấp độ cạnh tranh Cạnh tranh cấp quốc gia: Sức cạnh tranh quốc gia là khả năng tạo ra tăng trưởng bền vững, cao hơn mức trung bình trong dài hạn. Sức cạnh tranh quốc gia được xác định bởi các yếu tố: mức độ mở của nền kinh tế; vai trò của chính phủ; tài chính, công nghệ, cơ sở hạ tầng, quản lý nhân lực, lao động, thể chế.v Cạnh tranh cấp địa phương: Là sự cạnh tranh giữa các địa phương trong cùng một quốc gia. Sức cạnh tranh địa phương được xác định -5- bởi các yếu tố: Chi phí gia nhập thị trường; Chi phí tiếp cận và sử dụng đất đai; Tính minh bạch; Chi phí thực hiện các quy định của nhà nước; Tính năng động và tiên phong của chính quyền; Đào tạo lao động; Thiết chế pháp lý, v.
Cạnh tranh cấp doanh nghiệp: Sức cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao trong môi trường cạnh tranh. Cạnh tranh cấp sản phẩm: Sức cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó được tiêu thụ nhanh trong khi có nhiều người bán cùng loại sản phẩm đó trên cùng thị trường. Nói cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó, nó phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, khả năng cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán, … 1. Đặc điểm kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng 1.
Khái niệm NHTM Theo Peter S.Rose, ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế [7]. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngân hàng là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ nghiệp vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác, và các loại ngân hàng khác”. Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Đặc điểm kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng - Thứ nhất, kinh doanh ngân hàng liên quan trực tiếp đến nhiều ngành, nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, sự đổ vỡ của NHTM sẽ gây ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều chủ thể có liên quan. - Thứ hai, kinh doanh ngân hàng là kinh doanh dịch vụ. Bản chất của dịch vụ là khách hàng chỉ cảm nhận, đánh giá được sự hài lòng sau khi sử dụng dịch vụ. Do đó, dịch vụ ngân hàng tốt là phải nhanh chóng, chính xác, thuận tiện, bảo mật và đặc biệt là phải có tính an toàn cao, đòi hỏi ngân hàng phải có cơ sở hạ tầng vững chắc, hệ thống công nghệ hiện đại để đáp ứng.
- Thứ ba, NHTM là tổ chức tài chính trung gian; nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng chủ yếu là vốn huy động từ dân cư. Do đó ngân hàng phải có năng lực tài chính vững mạnh, khả năng kiểm soát và phòng ngừa rủi ro để đảm bảo an toàn, hiệu quả tiền gửi của khách hàng. - Cuối cùng, kinh doanh ngân hàng là kinh doanh tiền tệ - một loại hàng hóa đặc biệt được nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Hoạt động kinh doanh của NHTM ngoài tuân thủ các quy định chung của pháp luật còn chịu sự chi phối bởi hệ thống luật pháp riêng cho NHTM và chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương.
Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng Theo điều 16 Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là: - Khuyến mãi bất hợp pháp; - Cung cấp thông tin dễ gây hiểu nhầm (dưới bất kỳ hình thức nào) có hại cho các TCTD và khách hàng khác; - Đầu cơ dẫn đến lũng đoạn tỷ giá ngoại tệ, vàng và thị trường tiền tệ; và các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp khác; -7- Theo công văn số 339/NHNN-CSTT ngày 07/04/2004 của Ngân hàng Nhà nước thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh là: - Lạm dụng việc tăng lãi suất để thu hút tiền gửi; - Lạm dụng cơ chế lãi suất để cạnh tranh trong cho vay; Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là việc các NHTM sử dụng những chương trình, cách thức khác nhau nhằm gây ra sự hiểu lầm, hoặc dễ gây ra sự hiểu lầm cho người tiêu dùng về việc sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của mình, hoặc bán những sản phẩm dịch vụ của mình dưới giá thành, mà có thể gây thiệt hại đến các TCTD khác hoặc cho người tiêu dùng, hoặc cho nền kinh tế. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng Các hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động ngân hàng: Thứ nhất, theo hệ thống xếp hạng ngân hàng CAMELS, bao gồm 6 yếu tố: - C: vốn chủ sở hữu (Capital adequacy); - A: chất lượng tài sản (Asset quality); - M: chất lượng quản lý (Management quality); - E: lợi nhuận (Earnings); - L: thanh khoản (Liquidity); - S: nhạy cảm rủi ro thị trường (Sensitivity to Market Risk). Hệ thống CAMELS được phát triển bởi Cơ quan giám sát ngân hàng Mỹ, nó được chấp nhận rộng rãi bởi các Cơ quan giám sát ngân hàng các nước và các nhà phân tích tài chính. Tuy nhiên hệ thống xếp hạng này không đề cập đến tối đa hóa lợi nhuận, lợi ích cổ đông.
-8- Thứ 2, hệ thống xếp hạng ngân hàng được sử dụng bởi các tạp chí tài chính, như The Banker, và tạp chí Euromoney của Anh, xếp hạng các ngân hàng hàng đầu trên toàn cầu. Họ dựa vào vốn tự có cấp 1, tỷ lệ vốn/tài sản, tăng trưởng lợi nhuận thực tế, lợi nhuận trên vốn bình quân, và lợi nhuận trên tài sản. Thứ 3, tạp chí The Banker tại Trung Quốc đã liên kết với Trung tâm nghiên cứu tài chính và ngân hàng thuộc Viện khoa học xã hội Trung Quốc đã phát hành báo cáo cạnh tranh các NHTM Trung Quốc. Trong báo cáo phát hành năm 2004, họ đã định nghĩa cạnh tranh ngân hàng như sau: “Trong một điều kiện thị trường nhất định, quan hệ cung, cầu và các quy định liên quan, khả năng thiết kế và bán các sản phẩm tài chính, và tạo nhiều phúc lợi hơn đối thủ cạnh tranh; đó là khả năng chuyển đổi thành công các tài sản hiện tại thành các dịch vụ tốt hơn để cung cấp cho khách hàng”.
Họ đã phát triển mô hình cạnh tranh của NHTM như sau: Khả năng cạnh tranh của một ngân hàng = tài sản cạnh tranh (hiện tại) x quá trình cạnh tranh [19]. Tài sản cạnh tranh được hiểu là các yếu tố hiện tại chỉ ra sự cạnh tranh của ngân hàng, có nghĩa là so sánh các dữ liệu của một ngân hàng trong một giai đoạn. Đây là sự đánh giá về các yếu tố tài chính.