Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu về các nhân tế ảnh hưởng đến BVLN. Trong chương này luận văn tổng qua các nghiên cứu trước trên thế giới và tại Việt Nam theo từng khía cạnh của các nhân tố của BVLN. Để từ đó, luận văn trình bày khoảng trống và xác định van dé nghiên cứu cho luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về BVLN.
Nội dung chương này luận văn đề cập đến khái niệm liên quan đến BVLN. Bên cạnh đó, luận văn còn trình bày về các quy định liên quan đến BVLN của các tổ chức, các lý thuyết nền tảng đã được xác định nhằm áp dụng cho nghiên cứu. Mặt khác, luận văn đề xuất các giả thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu trong chương này. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn trình bày chỉ tiết các bước trong quy trình nghiên cứu, trình bày phương pháp thực hiện nghiên cứu, mô tả mẫu nghiên cứu, và đo lường các biến trong mô hình. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến BVIN cho các ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam. Luận văn trình bày các kết quá nghiên cứu thực nghiệm, thống kê mô tả, phân tích hệ số tương quan, kiêm định mức độ phù hợp của mô hinh, kiểm định khuyết tật của mô hình và bản luận kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách.
Luận văn trình bày kết luận và gợi ý một số chính sách nhằm nâng cao BVLN cho các ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam. CHUONG 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU VE CAC NHAN TO ANH HUONG DEN BEN VUNG LOI NHUAN 1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới về bền vững lợi nhuận Các nghiên cứu liên quan đến ngân hàng cho rằng các nhà quán lý sử đụng kế toán giá trị hợp lý dé có BVLN. Giá trị hợp lý có thể làm ảnh hưởng đến tính BVLN của các ngân hàng (Yao và các cộng sự, 2015; Pimentel và các cộng sự; 2016; Paoloni và các cộng sự, 2017; Hung vả các cộng sự, 2018; Yao va cac cong su, 2017; va Makhsun và các cộng sự, 2018).
Trên cơ sở một mẫu các ngân hàng quốc tế (ngoài Hoa Kỳ) từ 24 quốc gia trong giai đoạn 2009-2012. Yao và các cộng sự (2015) đã sử dụng kỹ thuật thu thập thú công từ báo cáo hàng năm. Các tác giả nhận thấy rằng các biến được sử dụng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai và lợi nhuận trước thuế tác động thuận chiều với BVIN, trong khi Giá trị hợp lý của đòng tiền các công cụ tài chính có tác động ngược chiều. Những nghiên cứu xem xét vai trò của BVLN đối với việc định giá và các nhân tế ảnh hưởng đến việc định giá thị trường dài hạn.
Tiêu biểu, Pimentel và các cộng sự (2016) nghiên cứu tại thị trường Brazil. Các tác giả đã phân tích dựa trên mẫu bao gồm 176 công ty niêm vết của Brazil từ năm 1995 đến năm 2013. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy để đo lường việc định giá và các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá thị trường dài hạn bao gồm dự báo lợi nhuận, giá trị số sách của vốn chú sở hữu, các khoản thu nhập bất thường. Nghiên cứu cho thấy rằng có mối liên hệ tương đồng giữa LNBV và định giá thị trường dài hạn.
Nghiên cứu của Paoloni và các cộng sự (2017) điều tra ảnh hưởng của kế toán Giá trị hợp lý đến BVLN trong lĩnh vực ngân hàng châu Âu trong giai đoạn 2007-2016. Giá trị hợp lý được ước tính bằng cách áp đụng các mô hình định giá. Mô hình hồi quy OLS được sử đụng để kiểm định các giá thuyết của mô hình. Nghiên cứu phát hiện khả năng dự đoán, khả năng thay đổi của lợi nhuận tác động thuận chiều với BVLN, trong khi quy mô ngân hàng và đòn bẫy tài chính không ảnh hướng đến BVIN.
Đề xác định cạnh tranh trực tiếp ánh hưởng đến BVLN của ngân hàng, Hung và các cộng sự (2018) đã nghiên cứu mẫu gềm 15.546 N ngân hàng thương mại từ năm 1986 đến 2013 và xem xét việc cạnh tranh tác động của các nhân tố đến việc BVLN của ngân hàng. Các biến như quy mô, đa dạng về thu nhập, đoanh thu, tổng nợ cho vay, tỷ lệ vến trên tài sản quan hệ cùng chiều và ảnh hưởng đến BVLN. Mặt khác, các biến hiệu quả quản lý và khoản lỗ cho vay, rúi ro, cạnh tranh tác động tiêu cực đối với BVLN. Ngoài ra, Yao và các cộng sự (2017) sử dụng dữ liệu thu thập từ mẫu 210 ngân hàng quốc tế của 22 quốc gia sử dụng IFRS trong giai đoạn 2009-2013 để xác định mức độ ánh hưởng cúa giá trị hợp lý đến BVLN.
Kết quả thu được là sử dụng các giá trị hợp lý cho các công cụ tài chính trên BCĐKT sẽ tăng cường tính BVLN. Ngoài ra, kiến thức chuyên môn trong ngành kiểm toán nâng cao độ tin cậy của các ước tính giá trị hợp lý nên dẫn đến việc duy trì BVLN. Nghiên cứu của Makhsun và các cộng sự (2018) đo lường BVLN bằng cách sử dụng phân tích hồi quy đơn giản. Mẫu gồm các ngân hàng đã áp dụng IFRS vào năm 2011 và 2012 sau khi đã lược bỏ mẫu vào năm 2010 và sử dụng hai năm trước IFRS là 2008 và 2009.
Phương pháp phân tích hồi quy cho thấy có BVLN sau khi áp đụng IFRS cao hơn so với khi thực hiện Chuẩn mực Kế toán Tài chính Indonesia (PSAK). Bên cạnh việc nhìn nhận BVLN của ngân hàng, một số nghiên cứu cũng được thực hiện để xem xét các nhân tố tác động của các doanh nghiệp (Richardson và các cộng su, 2005; Galimberti va Cupertino, 2009; Frankel va Litov, 2009; Dawar, 2014). Dién hình, Richardson và các cộng sự (2005) mở rộng nghiên cứu của Sloan (1996) để xem xét tính BVLN. Các tác giả sử dụng dữ liệu trên báo cáo tài chính hàng năm của 5 công ty tại Mỹ từ 1962-2001 để tính toán các biến trong báo cáo tài chính tương ứng với các loại tích lũy dồn tích (AWC), tai san thuần từ hoạt động kinh doanh (ANCO), dòng tiền tạo ra từ hoạt động kinh đoanh (AFIN).
Kết quả cho thấy AWC và ANCO tác động tiêu cực đến tính BVLN nhưng AFIN nghịch biến với BVLN. Đánh giá lại giả thuyết rằng BVLN, Galimberti và các cộng sự (2009) đã nghiên cứu mẫu gồm 126 công ty ở Brazil trong giai đoạn từ 1995 đến 2007. Kết quả phát hiện sự không đồng nhất về BVLN có liên quan giữa các công ty. Frankel và Litov (2009) sử dụng các phương pháp kiêm định để xem xét sự biến động của BVLN đến giá cô phiếu.
Dữ liệu thu thập từ 1984 đến năm 2004 tại Mỹ. Kết quả cho thấy quy mô doanh nghiệp tác động tiêu cực đến BVLN, việc ghi nhận các khoản lỗ kịp thời làm giảm tính BVIN. Kết quá cũng chí ra có sự ảnh hưởng của BVLN đến giá cô phiếu. Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra khả năng tổn tại của các biến kế toán, cụ thể là các khoán thu nhập bất thường, giá trị số sách, các khoản phải thu và dòng tiền trong một khoáng thời gian và chênh lệch ngân hàng thuần của thị trường ở Án Độ bởi Dawar (2014).
Nghiên cứu sử dụng mô hình Ohlson (1995). Hồi quy dữ liệu bảng được sử dụng để phân tích đữ liệu sáu năm từ 2006 đến 20111 trên các đơn vị mẫu. Kết quả đã xác định thu nhập bất thường và giá trị số sách, và chênh lệch lợi nhuận thuần có tác động cùng chiều đến tính BVLN. Gần đây, một số nghiên cứu cũng quan tâm đến BVLN (Canina va Potter, 2019; Aguguom và các cộng sự, 2019; Pirveli, 2020).
Theo đó, Canina và Potter (2019) kiếm tra một mẫu cho các đoanh nghiệp địch vụ trong một khoảng thời gian dài dé điều tra các yếu tố quyết định cụ thé vé tính bền vững và khả năng dự đoán lợi nhuận. Tính bền vững và khả năng đự đoán là dấu hiệu cho thấy BVLN. Mẫu được thu thập trong 19 năm từ 1997 đến 2015 gồm 31.194 doanh nghiệp kinh đoanh địch vụ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thực nghiệm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô, sự đa dạng hóa doanh thu và sự đặc thù trong nganh nghề kinh doanh tác động thuận chiều với BVLN. Mặt khác, các doanh nghiệp dịch vụ có các nhân tố như tổ chức hội nghị, đòn bây tài chính, cường độ làm việc của nhân viên theo mùa, độ nhạy cảm của GDP lại có tác động ngược chiều đến tính BVLN và khả năng dự đoán lợi nhuận. BVIN gắn liền với hoạt động toàn điện của các doanh nghiệp, Aguguom và các cộng sự (2019) chọn 51 công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nigeria bằng cách sử dụng kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng từ tất cá các lĩnh vực từ giai đoạn 2000-2016. Phương pháp hồi quy theo đữ liệu bảng.
Kết quả cho thấy, đòn bẩy tài chính thể hiện mối quan hệ tích cực, trong khi quy mô doanh nghiệp cho thấy mối quan hệ tiêu cực đến BVLN. Ngoài ra, Pirveli (2020) nghiên cứu tính bền vững và khả năng dự đoán của thu nhập trong các đơn vị thuộc khu vực tư nhân GruzZ1a. Mẫu cuối cùng bao gồm 450 tổ chức khu vực tư nhân lớn của Gruzia đã phải nộp báo báo cáo tài chính đã được kiểm toán trước năm 2018. Nghiên cứu sử đụng phương pháp bình phương nhỏ nhất.
Kết quả cho thấy quy mô đoanh nghiệp và đòn bây tài chính có tác động tiêu cực với BVLN. Thu nhập bất thường và quản ly tài chính tác động thuận chiều với BVLN.1 Bảng tổng hợp các nghiên cứu trên Thế giới Ph Pe Muc tié han Mau ục tiêu á # STT | Tác giả ne ace pháp nghiên Kết quả nghiên cứu nghiên „ „ cứu cứu Các nhân tố | Phương Các doanh | Nghiên cứu cho tác động pháp hồi nghiệp tại | thấy Kết quả cho đến BVIN |quyOL§ | Mỹ thấy AWC và của các với dữ liệu | (không ANCO tác động Richardson và | doanh bảng bao gồm _ | tiêu cực đến tính ] | các cộng sự nghiệp của công ty BVLN nhưng (2005) Mỹ. dich vu tai | AFIN nghịch chính) giai | biến với BVIN. đoạn 1962- 2001, Mỗi quan Phương 937 công | Kết qua cho thay giữa sự biến | pháp hồi ty của Mỹ, | quy mô doanh động của lợi | quy OLS từ 1984 nghiệp tác động nhuận và với dữ liệu | đến 2004 | tiêu cực đến các thuộc bảng BVLN, việc ghi ` tính lợi nhận các khoản Frankel và ns xy: x8 43 2.
nhuan cua 16 kip thoi lam Litov (2009) an a các công ty giảm tính BVLN.