Chương 1, với mục đích đặt nền tảng cho cả bài nghiên cứu, tác giả đã trình bày sự cần thiết và tầm quan trọng của việc chọn đề tài nghiên cứu về đa dạng hóa thu nhập trong các NHTM Việt Nam. Trong chương này còn định nghĩa rõ ràng mục tiêu chung của nghiên cứu, và liệt kê các câu hỏi cụ thể mà nghiên cứu này cần trả lời. Bên cạnh đó là mô tả đối tượng nghiên cứu, cũng như phạm vi giới hạn nghiên cứu về mặt thời gian, không gian, và nội dung của nghiên cứu. Mô tả các phương pháp nghiên cứu, bao gồm phân tích định lượng, và cách thức thu thập dữ liệu.
Trình bày những đóng góp mà nghiên cứu này có thể mang lại, cả về mặt lý thuyết và thực tiễn. Ngoài ra, mô tả khái quát về nội dung chính của từng chương trong bài nghiên cứu. LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về đa dạng hóa thu nhập 2.
Khái niệm đa dạng hóa thu nhập Đa dạng hóa là việc phát triển, phân bổ nguồn tiền vào nhiều hướng đầu tư kinh doanh khác nhau, các mảng đầu tư này không cùng tăng cũng như không cùng giảm với nhau, do đó sự thay đổi biến động giảm lợi nhuận từ lĩnh vực đầu tư này có thể được bù đắp thông qua việc tăng trưởng của lĩnh vực đầu tư khác. Chính sự kết hợp đa dạng hóa trong danh mục đầu tư có thể giúp giảm bớt các rủi ro đặc thù (Markowit, 1952). Đối với hoạt động ngân hàng, Mercieca & cộng sự (2007) cho rằng việc đa dạng hóa xảy ra theo ba khía cạnh chính là (i) Đa dạng hóa theo sản phẩm và dịch vụ tài chính, (ii) Đa dạng hóa qua địa điểm địa lý, và (iii) Đa dạng hóa từ việc kết hợp giữa đa dạng sản phẩm, dịch vụ tài chính và địa lý. Dù xảy ra theo hướng nào thì mục tiêu cuối cùng của việc đa dạng hóa vẫn là giảm thiểu tối đa các chi phí, gia tăng thu nhập cho ngân hàng.
Khi môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, dưới sức ép của mục tiêu lợi nhuận buộc các NHTM phải thay đổi trọng tâm hoạt động, cung cấp các sản phẩm dịch vụ toàn diện hơn, từ đó làm tăng mức độ đa dạng hóa thu nhập (Brei & cộng sự, 2019). Đa dạng hóa thu nhập của các NHTM thường gắn liền với việc thực hiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, bên cạnh đó là giảm dần tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động tín dụng truyền thống (Nguyễn Minh Sáng, 2017). Ở cùng góc độ định nghĩa khác, theo Rose & Hudgin (2008) đa dạng hóa thu nhập được hiểu là sự gia tăng thông qua sự biến động giữa thu nhập ngoài lãi và thu nhập từ lãi, cụ thể hoạt động đa dạng hóa thu nhập của NHTM thường tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực kinh doanh thương mại phi truyền thống như kinh doanh bảo hiểm bancassurance, ngoại hối, thanh toán điện tử và các hoạt động tạo phí, hoa hồng giao dịch khác. Tóm lại, từ những khái niệm trên đa dạng hóa thu nhập có thể được hiểu là sự gia tăng cơ cấu tỷ trọng nguồn thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng, là quá trình dịch chuyển phân bổ hoạt động kinh doanh, phát triển các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng.
Vai trò của đa dạng hóa thu nhập Trong nhiều năm qua, đa dạng hóa thu nhập đã dần trở thành một xu hướng phát triển tất yếu và có một vai trò quan trọng đối với các NHTM và cả nền kinh tế nói chung: Thứ nhất, giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng. Tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng là hoạt động có nhiều rủi ro và thường rất nhạy cảm với các biến động kinh tế, xã hội bởi vậy việc đẩy mạnh đa dạng hóa thu nhập sẽ góp phần phân tán các rủi ro, giảm thiểu những tổn thất trong hoạt động. Chính những động lực này cũng giúp các NHTM cải thiện hiệu quả hoạt động đạt được lợi nhuận kinh doanh ổn định, bền vững hơn (Jayaratne & Strahan, 1998). Thứ hai, đa dạng hóa thu nhập là cơ hội để hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước, nâng cao trình độ kỹ thuật, nhân sự và công nghệ.
Bên cạnh đó thu hút cũng như mở rộng mối quan hệ với nhiều khách hàng hơn, từ đó giúp các NHTM gia tăng vị thế, thương hiệu và tín nhiệm trên thị trường trong nước, khu vực và quốc tế (Elyasiani và cộng sự, 2012) Thứ ba, đa dạng hóa thu nhập giúp ngân hàng đạt được hiệu quả kinh doanh ổn định cũng sẽ góp phần đảm bảo nguồn cung tiền tệ cho thị trường, ổn định vĩ mô nền kinh tế, bên cạnh đó tạo điều kiện thuận lợi giúp các lĩnh vực khác trong nền kinh tế (như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại dịch vụ) phát triển (Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và cộng sự, 2021). Thứ tư, nhờ vào đa dạng hóa thu nhập mà các khách hàng có thể tiếp cận được nhiều sản phẩm dịch vụ khác nhau, tiết kiệm được thời gian và chi phí liên quan (Chronopoulos & ctg, 2011). Đo lƣờng đa dạng hóa thu nhập Để ước lượng mức độ đa dạng hóa thu nhập của các NHTM ta có thể sử dụng chỉ số HHI (Herfindahl Hirschman index). HHI là một công cụ phân tích quan trọng và rất phổ biến trong nghiên cứu kinh tế và tài chính vì nó cung cấp một cách tiếp cận đơn giản nhưng hiệu quả để đánh giá mức độ tập trung hoặc phân phối của nguồn thu nhập trong một tổ chức.
Bên cạnh đó, nó còn cho phép so sánh giữa các 9 ngân hàng khác nhau về mức độ đa dạng hóa thu nhập, giúp nhà nghiên cứu và quản lý ngân hàng có cái nhìn sâu sắc hơn về vị trí của mình so với ngành. Chỉ số này cũng được ứng dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu trước đây của Vicenxo Chiorazzo & ctg (2008); Chronopoulos & cộng sự (2011); Ali Osman Gurbuz & ctg (2013); Sanya & cộng sự (2011), theo đó mức độ đa dạng hóa thu nhập của các NHTM được ước lượng theo công thức: HHIi,t = Nguồn: Vicenxo Chiorazzo & ctg (2008) Trong đó tổng thu nhập ròng, được xác định bằng tổng của thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi. Theo công thức trên, khi chỉ số HHI càng cao thì thể hiện mức độ đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng cao cũng như có sự phụ thuộc lớn vào một hoặc một số ít nguồn thu nhập cụ thể; ngược lại khi chỉ số này càng thấp càng phản ánh mức độ tập trung trong hoạt động kinh doanh cũng như thu nhập của ngân hàng trong mẫu nghiên cứu. Tổng quan về hiệu quả kinh doanh 2.
Khái niệm Hiệu quả kinh doanh được hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh khả năng sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận cao nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh với mức chi phí thấp nhất (Phạm Thị Thanh Hương và cộng sự, 2016). Với quan điểm của mình, Sandrine Kablan (2010) cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất phát từ khả năng đạt được mục tiêu với nỗ lực tối thiểu hóa các nguồn lực đầu vào. Đối với lĩnh vực ngân hàng, về bản chất thì hiệu quả kinh doanh trong ngân hàng được thể hiện qua khả năng biến đổi tối đa hóa doanh thu hoặc giảm thiểu chi phí mà ngân hàng phải bỏ ra nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh so với các định chế tài chính khác (Coelli & ctg, 2005). Trong phạm vi nghiên cứu khác, Gurbuz & ctg (2013) lại cho rằng khả năng mà ngân hàng tạo ra nguồn thu ổn định cũng như hạn chế tối đa các rủi ro phát sinh, đồng thời nâng cao vị thế vốn và cải thiện nguồn lợi 10 nhuận trong tương lai được gọi là hiệu quả kinh doanh.
Một ngân hàng được xem là hoạt động kinh doanh hiệu quả nếu đạt được mức tối đa lợi nhuận đầu ra trong điều kiện sử dụng một cách tối ưu các yếu tố đầu vào (Berger và cộng sự, 1997). Có thể thấy tùy theo mục đích, góc nhìn của mỗi nhà nghiên cứu và tùy thuộc vào quan điểm đánh giá mà hiệu quả kinh doanh được định nghĩa theo một cách khác nhau. Trong phạm vi đề tài này xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, hiệu quả kinh doanh được biểu hiện qua suất sinh lời trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Đo lƣờng hiệu quả kinh doanh Trong các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh trên thế giới và cả ở Việt Nam hiện nay, đa số các tác giả thường áp dụng phương pháp theo chỉ số tài chính hoặc phân tích hiệu quả cận biên để đo lường hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Thứ nhất, phương pháp đo lường theo chỉ số tài chính. Đây là phương pháp truyền thống và được áp dụng phổ biến nhất để đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động của các NHTM trong đa số các nghiên cứu. Một số chỉ tiêu chính thường được sử dụng: ROAi,t = Nguồn: Rose & Hudgin (2008). Chỉ tiêu ROA (Return On Assets) là chỉ tiêu được sử dụng nhằm phản ánh mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản, hay cho biết một đồng tài sản có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế (Rose & Hudgin, 2008).
Khi ROA cao chứng tỏ hoạt động của ngân hàng là hiệu quả, các chính sách điều chỉnh cơ cấu tài sản là hợp lí, phù hợp với những biến động của nền kinh tế. Ngược lại, trong trường hợp ROA càng thấp càng chứng minh ngân hàng thiếu hiệu quả trong việc tối ưu hóa lợi nhuận cũng như giảm thiểu các chi phí hoạt động (Võ Xuân Vinh và cộng sự, 2017). 11 ROEi,t = Nguồn: Võ Xuân Vinh và cộng sự (2017). Chỉ tiêu ROE (Return On Equity) là chỉ tiêu biểu hiện cho mức độ hiệu quả trong việc sử dụng vốn, hay phản ảnh khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn mà chủ sở hữu phải bỏ ra.
Hay nói cách khác, ROE phản ánh mức thu nhập mà một cổ động có thể được nhận nếu chấp nhận rủi ro đầu tư vốn. Tỷ lệ này càng cao sẽ càng đem lại hiệu quả tốt cho ngân hàng, điều này thể hiện ngân hàng đã tối ưu hóa lợi nhuận trong việc sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu và ngược lại (Võ Xuân Vinh và cộng sự, 2017). Ngoài hai chỉ tiêu tài chính phổ biến trên, hiệu quả kinh doanh của NHTM có thể được xem xét qua tỷ lệ thu nhập lãi cận biên hoặc ngoài lãi cận biên. NIM = NOM = Thứ hai, phương pháp đo lường bằng cách phân tích hiệu quả biên.