CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. Khái quát về dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Ngân hàng điện tử Daniel (1999) cho rằng ngân hàng điện tử là việc phân phối thông tin và dịch vụ ngân hàng cho khách hàng thông qua các kênh phân phối khác nhau như máy tính cá nhân hoặc các thiết bị thông minh khác.
Cùng ý tưởng đó, Allen và cộng sự (2001) đưa ra khái niệm ngân hàng điện tử là các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng thông qua máy tính hoặc điện thoại thông minh. Theo Thông tư 35/2016/TT-NHNN Quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet, phần giải thích từ ngữ và thuật ngữ có định nghĩa: Ngân hàng điện tử là một tập hợp có cấu trúc các trang thiết bị phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu, hệ thống mạng truyền thông và an ninh bảo mật để sản xuất, truyền nhận, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số phục vụ cho việc quản lý và cung cấp dịch vụ qua mạng Internet. Như vậy, có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngân hàng điện tử, nhưng một khái niệm đầy đủ về ngân hàng điện tử theo tác giả: Ngân hàng điện tử là dịch vụ mà các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ chức) dựa trên quá trình số hóa và chuyển giao dữ liệu số hóa được thực hiện trên một thiết bị (máy tính, điện thoại di động,…) có kết nối Internet, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch nhanh chóng, chính xác với ngân hàng mọi lúc, mọi nơi. Dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng điện tử hay Electronics banking là một trong những ứng dụng công nghệ hiện đại của ngân hàng.
Đây là dịch vụ ngân hàng được cung cấp qua các phương tiện kĩ thuật điện tử cho phép khách hàng thực hiện giao dịch trực tuyến và nắm bắt được thông tin tài chính của mình cũng như các thông tin tài chính khác như tình hình tỷ giá, lãi suất… mà không cần trực tiếp đến ngân hàng. Ngân hàng nhà nước Việt Nam định nghĩa về dịch vụ ngân hàng điện tử như sau: Các dịch vụ và sản phẩm được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ 7 thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối điện tử (Internet và các thiết bị truy cập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…) được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT). Phân loại dịch vụ ngân hàng điện tử Theo GS.TS Nguyễn Văn Tiến trong Giáo trình nguyên lý và nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Thống kê Hà Nội, xuất bản năm 2014 đã chỉ ra dịch vụ ngân hàng điện tử bao gồm các loại sau đây: Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Mobile banking) Các câu trả lời về số dư tài khoản, lãi suất cho vay các khoản thanh toán đã trả lãi, lãi suất tiền gửi, các khoản chi bằng thẻ tín dụng, và các thông tin khác… sẽ chỉ cần thực hiện thông qua điện thoại mà khách hàng không cần phải đến ngân hàng. Với hệ thống này khách hàng sẽ thực hiện giao dịch 24/7 mà không cần phải đi ra ngân hàng và chờ đợi đến lượt.
Đồng thời khách hàng cũng sẽ được tư vấn thông qua hệ thống trả lời tổng đài tự động, tạo sự tiện dụng cho khách hàng, giảm số cuộc gọi cần được xử lý cho nhân viên ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Internet banking) Ngày càng có nhiều người sử dụng máy tính tại nhà và công sở để truy cập mạng tài khoản của mình và doanh nghiệp tại ngân hàng. Khách hàng có thể truy vấn số dư tài khoản, in sao kê, chuyển tiền, tra cứu giá cổ phiếu, giá chứng khoán, tỉ giá ngoại tệ và rất nhiều dịch vụ tiện ích khác thông qua mạng internet, bất kì lúc nào và bất kì đâu mà khách hàng cho là phù hợp nhất. Sự ra đời của dịch vụ này đã tăng doanh số giao dịch, tiết kiệm thời gian cho khách hàng.
Dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home banking) Là một loại dịch vụ ngân hàng điện tử cho phép khách hàng có thể chủ động kiểm soát hoạt động giao dịch ngân hàng từ văn phòng của mình thông qua các phương tiện: website, thư điện tử, điện thoại di động hay điện thoại cố định. Khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng nhưng là mạng nội bộ (Intranet) do ngân hàng xây dựng riêng. Các giao dịch được tiến hành tại nhà thông qua hệ thống máy tính nối với hệ thống máy tính của ngân hàng. Thông qua dịch vụ Home banking, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch về chuyển tiền, liệt kê giao dịch, tỷ giá lãi 8 suất…Để sử dụng được dịch vụ này khách hàng chỉ cần có máy tính (tại nhà hoặc trụ sở) kết nối với hệ thống máy tính của ngân hàng thông qua modem – đường điện thoại quay số, khách hàng phải đăng ký số điện thoại và chỉ những số điện thoại này mới được kết nối với hệ thống Home banking của ngân hàng.
Hệ thống này giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và tiền bạc vì không cần đến giao dịch trực tiếp tại ngân hàng, dành thời gian tập trung vào kinh doanh. Khách hàng cũng không cần lo kẹt xe làm lỡ giao dịch. Với dịch vụ này, giao dịch ngân hàng chỉ còn là việc bấm bàn phím máy tính, vào thời điểm thuận tiện nhất. Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Phone banking) Dịch vụ này được cung cấp qua một hệ thống máy chủ và phần mềm quản lý đặt tại ngân hàng, liên kết với khách hàng thông qua tổng đài dịch vụ.
Thông qua các phím chức năng được khái niệm trước, khách hàng sẽ được phục vụ một cách tự động hoặc thông qua nhân viên tổng đài. Khi đăng ký sử dụng dịch vụ, khách hàng sẽ được cung cấp một mã khách hàng, hoặc mã tài khoản, tùy theo dịch vụ đăng ký, khách hàng có thể sử dụng nhiều dịch vụ khác nhau. Các dịch vụ được cung cấp qua Phone banking như: hướng dẫn sử dụng dịch vụ, giới thiệu thông tin về dịch vụ ngân hàng, cung cấp thông tin tài khoản và bảng kê giao dịch, cung cấp thông tin về lãi suất, tỷ giá hối đoái…Tuy nhiên, tại Việt Nam, các dịch vụ mới tạm thời cung cấp dịch vụ tra cứu thông tin tài khoản và cung cấp thông tin tài chính ngân hàng. Trung tâm dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Call center) Do quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi nhánh nào vẫn gọi về một số điện thoại cố định của trung tâm này để được cung cấp mọi thông tin chung và cá nhân.
Khác với Phone banking chỉ cung cấp các loại thông tin lập trình sẵn, Call center có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng. Nhược điểm của Call centre là phải có người trực 24/24h. Dịch vụ ngân hàng qua các trạm giao dịch tự phục vụ (Kiosk banking) Là sự phát triển của dịch vụ ngân hàng hướng tới việc phục vụ khách hàng với chất lượng cao nhất và thuận tiện nhất. Trên đường phố sẽ đặt các trạm làm việc với đường kết nối Internet tốc độ cao.
Khi khách hàng cần thực hiện giao dịch hoặc yêu 9 cầu dịch vụ, họ chỉ cần truy cập, cung cấp số chứng nhận cá nhân và mật khẩu để sử dụng dịch vụ của hệ thống ngân hàng phục vụ mình. Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch như: gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn, thanh toán hóa đơn, chuyển khoản, in sao kê, vấn tin, … trực tuyến tại kiosk; còn ngân hàng thì quảng cáo trực tiếp các sản phẩm dịch vụ của mình cũng như gián tiếp cho các loại sản phẩm dịch vụ khác. Kiosk banking chỉ thực hiện các giao dịch phi tiền mặt để giảm áp lực cho các máy ATM. Hệ thống thanh toán điện tử tại các điểm bán hàng (POS) Các giao dịch thanh toán bằng thẻ được thực hiện thông qua thiết bị POS (Point of Sales) đây là thiết bị đặt tại địa điểm bán hàng nơi mà khách hàng có thể sử dụng các loại thẻ như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ để thanh toán hàng hóa dịch vụ cho khách hàng.
Số tiền trả cho hàng hóa chuyển cho người bán thông qua chuyển tiền bằng công nghệ điện tử trích tiền từ tài khoản của người mua chuyển sang tài khoản của người bán. Các giao dịch POS loại bỏ nhu cầu tiền mặt, mang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan, giúp khách hàng không phải mang theo một số lượng lớn tiền mặt để mua bán. Thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng cho phép khách hàng chi tiêu thuận tiện mà không cần dùng đến tiền mặt, thẻ ngân hàng bao gồm bốn loại chính: thẻ ghi nợ, thẻ thông minh, thẻ trả trước và thẻ tín dụng. thẻ ghi nợ cho phép khách hàng sử dụng tiền hiện có trong tài khoản thanh toán hoặc tài khoản tiết kiệm.
Thẻ tín dụng cho phép khách hàng chi tiêu theo hạn mức tín dụng. Thẻ thông minh lưu trữ thông tin của khách hàng, bao gồm một khoản tiền lấy từ một tài khoản gốc, trên một con chíp được gắn vào thẻ. Thẻ ngân hàng giúp khách hàng thanh toán một cách dễ dàng, khách hàng cũng có thể rút tiền mặt từ thẻ thông qua hệ thống rút tiền tự động (ATM) trên toàn quốc. Khách hàng cũng có thể chuyển tiền vào thẻ thông qua dịch vụ NHĐT của ngân hàng.
Lợi ích và hạn chế của dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Lợi ích của dịch vụ ngân hàng điện tử Đối với nền kinh tế Trong những năm qua nhà nước đã bỏ ra chi phí lớn để in tiền và quản lý tiền mặt đưa ra lưu thông trên thị trường. Việc khó khăn trong quản lý và xác định chính 10 xác tiền mặt trên thị trường đã khiến cho NHNN gặp khó khăn trong việc đưa ra các chính sách tiền tệ để ổn định thị trường tài chính tại Việt Nam. Chính vì điều đó việc đưa vào sử dụng rộng rãi và phát triển dịch vụ NHĐT làm phát triển việc thanh toán không dùng tiền mặt, giảm lượng tiền mặt lưu thông trong cả nước; giảm chi phí quản lý tiền mặt và giúp cho NHNN có thể sử dụng hữu hiệu các công cụ của chính sách tiền tệ.
Phát triển NHĐT là cầu nối cho hội nhập và phát triển kinh tế trong nước và quốc tế trong xu hướng hội nhập toàn cầu.