phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận án gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ ngân hàng của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam 14 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Hiện nay, khái niệm dịch vụ nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng vẫn chƣa thật sự thống nhất. “Dịch vụ” đƣợc hiểu là “Các hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.
Hay “Dịch vụ là thực hiện một hoạt động mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, mang bản chất vô hình và không dẫn tới việc chuyển giao quyền sở hữu bất cứ tài sản nào/thứ gì. Quá trình tạo ra dịch vụ có thể gắn với hoặc có thể không gắn với sản phẩm vật chất cụ thể” [22]. Dịch vụ là các lao động của con ngƣời đƣợc kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm đƣợc. Cách hiểu này nêu đƣợc hai đặc điểm cơ bản của dịch vụ: Thứ nhất, dịch vụ là một sản phẩm; thứ hai, dịch vụ là vô hình (phi vật chất), khác với sản phẩm hàng hóa là hữu hình.
Theo tác giả thì cả hai định nghĩa trên vẫn chƣa thỏa đáng mà phải kết hợp cả hai mới đầy đủ. Đó là: Dịch vụ là các lao động của con ngƣời đƣợc kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm đƣợc để phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của con ngƣời. Dịch vụ ngân hàng: (i) Theo truyền thống (trƣớc đây) là “các dịch vụ đã đƣợc thực hiện trong nhiều năm, trên nền công nghệ cũ, quen thuộc với khách hàng, thuộc giai đoạn cuối cùng trong vòng đời của một sản phẩm dịch vụ” [24, tr 125]; (ii) Theo Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) “một 15 dịch vụ tài chính là bất kỳ DV nào có tính chất tài chính, đƣợc một nhà cung cấp DV tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi DV bảo hiểm và DV liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)” [24, tr 142].
Nhƣ vậy DVNH là một bộ phận cấu thành nên DV tài chính và cũng khó phân định rõ đâu là DVNH và đâu là dịch vụ tài chính nhƣ: - Nhận tiền gửi - Tất cả các loại hình cho vay - Cho thuê tài chính - Dịch vụ thanh toán và chuyển tiền - Bảo lãnh và cam kết - Buôn bán cho chính tài khoản của mình hoặc cho tài khoản của ngƣời tiêu dùng hoặc là tại sở giao dịch, tại thị trƣờng phi tập trung hoặc ở các nơi khác các sản phẩm sau: các công cụ của thị trƣờng tiền tệ, ngoại tệ, các sản phẩm phái sinh, tỷ giá và các công cụ lãi suất, các chứng khoán chuyển nhƣợng đƣợc, các công cụ mua bán đƣợc khác và các tài sản chính. - Tham dự vào tất cả các vấn đề liên quan đến chứng khoán, bao gồm nhận bảo lãnh và đầu tƣ nhƣ một đại lý và cung cấp các dịch vụ có liên quan. - Môi giới tiền tệ. - Quản lý tài sản.
- Các dịch vụ thanh toán đối với tài sản chính. - Các dịch vụ tƣ vấn và phụ trợ khác. - Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý các dữ liệu tài chính và phần mềm liên quan đƣợc cung cấp bởi các nhà cung ứng dịch vụ tài chính khác. Hiệp định thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ và Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) đã đƣợc ký kết cũng hiểu và phân loại dịch vụ tài chính (trong đó có dịch vụ ngân hàng) tƣơng tự nhƣ WTO.
16 Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm DVNH nhƣng vẫn chƣa có văn bản pháp lý nào đƣa ra khái niệm rõ ràng. Có quan điểm cho rằng bất cứ hoạt động sinh lời nào của Ngân NHTM ngoài hoạt động tín dụng đều đƣợc gọi là hoạt động DV. Tuy nhiên, theo một quan điểm khác phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, với cách thức phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục thống kê Việt Nam, cách phân loại các ngành DV tài chính trong Hiệp định về thƣơng mại DV (General Agreement on Trade in Services - GATS) của WTO thì tất cả các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngoại hối, thanh toán mà Ngân hàng thƣơng mại cung ứng cho nền kinh tế đều đƣợc xem là hoạt động DV. Nhƣ vậy, dịch vụ ngân hàng sẽ đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống của định chế tài chính trung gian (huy động vốn và cho vay) [1].
Trong phạm vi nghiên cứu, luận án đồng tình với cách phân loại DV theo nghĩa rộng, DVNH là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối của hệ thống ngân hàng đối với khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân (nhƣng không bao gồm hoạt động tự làm cho mình của các tổ chức tín dụng). Quan niệm này đƣợc sử dụng để xem xét lĩnh vực DVNH trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân của một quốc gia. Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành DVNH trong dịch vụ tài chính của WTO và của Hiệp định thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ, cũng nhƣ của nhiều nƣớc phát triển trên Thế giới. Các loại dịch vụ ngân hàng 1.
Dịch vụ nhận tiền gửi/huy động vốn Là hoạt động cơ bản của NHTM. Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ ngƣời có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi cho khách hàng đúng hạn. Với hoạt động HĐV, các NHTM đƣợc phép 17 sử dụng tất cả các công cụ và phƣơng pháp khác nhau để huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế. Trên bảng cân đối kế toán của NHTM, bên tài sản nợ có 3 mục chính gồm: vốn huy động, vốn vay và vốn tự có.
Trong đó thì vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất, có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Nó cũng là một tiêu chí để đánh giá uy tín, độ tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng. Dịch vụ nhận tiền gửi của NHTM đƣợc thực hiện dƣới các hình thức sau: a. Nhận tiền gửi (nhận ký thác): Nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế bằng VNĐ và bằng ngoại tệ Nhận tiền gửi của cá nhân, các tổ chức đoàn thể xã hội bằng VNĐ và bằng ngoại tệ Nhận tiền gửi của các TCTD bằng VNĐ và bằng ngoại tệ Các hình thức huy động khác b.
Phát hành chứng từ có giá để huy động vốn c. Vay các tổ chức tín dụng khác d. Vay Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam [7, tr 21]. Dịch vụ tín dụng Là nghiệp vụ kinh doanh truyền thống của NHTM.
Là hình thức trong đó ngân hàng cung cấp cho khách hàng vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích nhất định và có cam kết hoàn trả gốc, lãi vào thời gian nhất định. Cho vay trực tiếp (Direct Loans) Theo tính chất: Cho vay sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế; Cho vay tiêu dùng đối với cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức đoàn thể xã hội. 18 Theo thời hạn: Cho vay ngắn hạn với thời hạn từ một năm trở xuống; Cho vay trung hạn với thời hạn từ trên một năm đến 5 năm; Cho vay dài hạn với thời hạn trên 5 năm. Cho vay gián tiếp (Indirect Loans): Chiết khấu chứng từ có giá (Discounting); Bao thanh toán (Factoring) c.
Hình thức cho vay khác: Thấu chi; Cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng [7, tr 21 - 22]. Dịch vụ bảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee) Ngân hàng bằng uy tín có thể đứng ra bảo lãnh cho khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức) khi khách hàng tham gia vào các giao dịch kinh tế. Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của ngân hàng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên đƣợc bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh [13]. Các ngân hàng thƣờng thực hiện các loại bảo lãnh chủ yếu là bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trƣớc, bảo lãnh bảo hành, bảo lãnh mua thiết bị trả chậm, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh vay vốn trong nƣớc và ngoài nƣớc, bảo lãnh phát hành trên thị trƣờng chứng khoán.
Dịch vụ thanh toán Thanh toán qua ngân hàng là việc chi trả tiền hàng hóa, DV và các khoản thanh toán khác giữa các tác nhân trong nƣớc và quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng. Hoạt động thanh toán là một hoạt động dịch vụ quan trọng của NHTM. Vì nó là một trong những nhân tố quan trọng giúp cho ngân hàng tiếp cận đƣợc với khách hàng nhất là trong thời đại ngày nay việc thanh toán không dùng tiền mặt với những ƣu điểm nổi trội đã đƣợc xã hội tin dùng. Đồng thời phí DV thanh toán cũng là một khoản thu rất đáng kể đối vớiNHTM.
Căn cứ vào đối tƣợng thanh toán mà có thể phân chia thành dịch vụ thanh toán trong nƣớc hay dịch vụ thanh toán quốc tế. Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ Các hình thức chủ yếu của giao dịch kinh doanh ngoại tệ thƣờng là: Giao dịch mua bán trao ngay (Spot Orperationns); Giao dịch mua bán có kỳ hạn (Forward Orperationns); Giao dịch quyền chọn (Option Orperationns); Giao dịch hợp đồng tƣơng lai (Future Orperationns); Giao dịch hoán đổi tiền tệ (Swap Orperationns); Giao dịch hoán đổi lãi suất [14]. Hoán đổi lãi suất bao gồm 2 loại giao dịch cơ bản: Giao dịch hoán đổi tiền tệ chéo (Cross Currency Swap); Giao dịch hoán đổi lãi suất một đồng tiền (Interest Rate Swap). Dịch vụ ngân hàng khác a.