CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NANG LỰC CẠNH TRANH CUA NGAN HÀNG THUONG MẠI VÀ SỰ CAN THIẾT PHAI NÂNG CAO NĂNG LUC CẠNH TRANH CUA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG DIEU KIỆN HỘI NHAP KINH TE QUỐC TE 1. Khái quát về Ngân hang thương mai. Khái niệm về Ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại là một sản phẩm được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển xã hội loài người, nhưng, không giống với nhiều sản phẩm khác, xét về bản chất, và các hành vi mà nó cư XỬ, nguoi ta coi NHTM như là một sản pham xã hội — một ngành công nghiệp dich vụ với tinh cộng đồng cao, không chỉ trải rộng trong phạm vi một quốc gia, mà còn lan tỏa trong phạm vi quốc tế.
Có rất nhiều những khái niệm về NHTM. Rose, “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dich vụ tài chính da dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiễu chức năng tài chính nhất so với bat ki một tổ chức kinh doanh nào trong nên kinh tế”. Theo David Begg và Standley Fisher, NHTM là một trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở các khoản tiền gửi, kê cả các khoản tiên gửi ma dựa vào đó có thé dùng các tờ séc Sinh viên: Bùi Hương Ly 14 Lớp: Kinh doanh quốc tế 46B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh Theo Luật các tô chức tin dụng ở Việt Nam số 07/1997/QHX: “Ngân hàng thương mại là tổ chức tin dụng được thực hiện tắt cả những hoạt động kinh doanh tiên tệ, làm nhiệm vụ Ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”, trong đó: “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiễn tệ và dich vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiên này dé cấp tin dung và cung ứng các dich vụ thanh toán”.
Theo Điều I-Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại thì: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phân thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước”. Ngày nay, dưới tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế xuất hiện sự xâm nhập lẫn nhau giữa các NHTM và các tổ chức tài chính phi ngân hàng, với các công ty hình thành nên những tập đoàn kinh tế tài chính. Từ đó, việc rút ra một định nghĩa chính xác về NHTM không phải là điều dé dàng. Phân loại Ngân hàng thương mại.
* Theo hình thức sở hữu. Y NHTM Nhà nước: La NHTM do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập, và tổ chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế của Nhà nước. * Ngân hàng liên doanh: Là ngân hang được thành lập bằng vốn góp của bên Việt Nam, và bên nước ngoai, trên cơ sở hợp đồng liên doanh. NHLD là một pháp nhân của Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam, hoạt động theo giấy phép thành lập, và theo các quyết định có liên quan của pháp luật.
Y NHTM cổ phan: La NHTM được thành lập, dưới hình thức công ty cổ phần trong đó có các Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), các tổ chức tín dụng (TCTD), tổ chức khác và các cá nhân, cùng góp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). v Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: La dịch vụ phụ thuộc của Ngân hàng nước ngoai, được Ngân hang nước ngoài chịu trách nhiệm đôi với mọi nghiệp Sinh viên: Bùi Hương Ly 15 Lop: Kinh doanh quéc té 46B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh vụ, và cam kết của chi nhánh Việt Nam. Chi nhánh Ngân hang nước ngoài có quyên, và nghĩa vụ do pháp luật Việt Nam quy định, hoạt động theo giấy phép mở chi nhánh, và các quyết định liên quan của pháp luật Việt Nam.
* Theo chiến lược kinh doanh và mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. v Ngân hàng bán lẻ: Là loại ngân hang giao dịch, và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng là cá nhân. v Ngân hàng bán buôn: Là ngân hang chi giao dịch và cung ứng các dịch vụ cho đối tượng khách hàng công ty chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân. v Ngân hàng bán buôn và bán lẻ: Là loại ngân hang, giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách hàng công ty, lẫn khách hàng cá nhân.
Hầu hết các NHTM ở Việt Nam đều thuộc loại hình này. * Theo quan hệ tô chức. Căn cứ vào quan hệ tô chức ngân hàng, người ta chia thành: Ngân hàng hội sở, Ngân hàng chi nhánh và Phòng giao dịch. Ngân hàng hội sở, là nơi tập trung quyền lực cao nhất, cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, trong khi Ngân hang chi nhánh và Phòng giao dịch nhỏ hơn và cung cấp không day đủ tat cả các giao dịch, mà chỉ tập trung vào các giao dịch cơ bản như: Huy động vốn, thanh toán, cho vay.
Chức năng của Ngân hàng thương mại. Ngân hàng, là một trong những t6 chức tài chính quan trọng nhất, trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Hoạt động hệ thống ngân hàng, đóng vai trò rất lớn vào sự phát triển kinh tế, đồng thời là động lực cho sự tăng trưởng. Với những vai trò quan trọng hàng đầu như vậy, NHTM có những chức năng cơ bản sau: Chức năng trung gian tài chính, chức năng làm trung gian thanh toán, chức năng tạo phương tiện thanh toán: * Chức năng là trung gian tài chính Ngân hang là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyền tiền tiết kiệm để đầu tư.
Nhưng, tiền tiết kiệm đến từ đâu và ai sẽ là người cân đên sự đâu tư đó? Câu trả lời chính là hai loại cá nhân và tô chức khác Sinh viên: Bùi Hương Ly l6 Lớp: Kinh doanh quốc tế 46B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh nhau của nền kinh tế. Loại thứ nhất, là các cá nhân và tổ chức tam thời thâm hụt chi tiêu, vi chi tiêu vượt quá thu nhập nên họ cần vốn. Loại thứ hai, là các cá nhân và tổ chức mà thu nhập lớn hơn chi tiêu nên họ có tiền nhàn rỗi để tiết kiệm.
Lúc này, các NHTM đã đem lại lợi ích cho cả hai bên, tăng thu nhập, khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm chi phí cho người đầu tư với chức năng làm trung gian của mình. * Chức năng tạo phương tiện thanh toán. Như chúng ta đã biết, tiền luôn có một chức năng vô cùng quan trọng đó là làm phương tiện thanh toán. Trong buổi sơ khai của nền kinh tế, tiền — vàng là phương tiện thanh toán không thé thiếu.
Các ngân hàng nhận gửi tiền vàng và các tai sản có giá tri khác do những nhà kinh doanh, nha thờ, lãnh chúa thực hiện. Đổi lại, những người gửi tiền sẽ phải trả cho người giữ tiền một khoản lệ phí nhất định được xác nhận thông qua tờ biên lai làm tin. Nhưng, theo thời gian, phương tiện thanh toán bằng vàng gây ra những khó khăn và cản trở cho quá trình hoạt động của ngân hàng nên, giấy nhận nợ ra đời. Với những ưu điểm vượt trội của mình, giấy nhận nợ do ngân hàng phát hành đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi, dần dan thay thế tiền — vàng.
Do chính là tiền giấy ngày nay. Tuy nhiên, nền kinh tế lại vấp phải một câu hỏi: Làm thế nào để kiểm soát lượng tiền trong lưu thông? Lúc này, dé thực hiện tốt quyền kiểm soát của mình, Nhà nước chỉ cho phép một số ngân hàng lớn được phát hành tiền giấy còn lại đa số các ngân hàng chỉ được phép là trung gian tài chính trong nền kinh tế. Ngày nay, thông qua các loại thẻ thanh toán, séc v. do ngân hàng phát hành, có thê nói, đây vẫn là chức năng quan trọng của tất cả các NHTM.
* Chức năng làm trung gian thanh toán. Thông qua việc thay mặt khách hang dé thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ, ngân hàng đã trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở tất cả các quốc gia. Các dịch vụ thanh toán của ngân hàng vô cùng đa dạng và phong phú: Séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, the, mạng lưới thanh toán điện tử, cung cấp tiền giấy.Các ngân hàng còn thực hiện việc thanh toán bù trừ cho nhau thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc qua các trung tâm thanh toán. Ngày nay, hoạt động Sinh viên: Bùi Hương Ly 17 Lớp: Kinh doanh quốc tế 46B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Anh Minh thanh toán qua ngân hàng mang tính thống nhất trên phạm vi không chỉ quốc gia mà là toàn thế giới. Nhờ các dịch vụ tiện ích của ngân hàng mà hoạt động thanh toán của khách hàng được thực hiện vô cùng nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại. Là một ngành kinh doanh đặc biệt, kinh doanh tài chính nên hoạt động của các NHTM rất phức tạp, đa dạng, và nhạy cảm với môi trường.
Đề đáp ứng như cầu càng ngày càng khắt khe, và luôn luôn thay đổi của khách hàng, các ngân hàng liên tục cho ra đời hàng loạt dịch vụ đa dạng, phong phú nhằm cung cấp cho tổ chức và cá nhân. Căn cứ theo các chức năng của NHTM, có thể nhận thấy, các hoạt động cơ bản của NHTM bao gồm (Theo Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2000 về tổ chức và hoạt động của NHTM): * Hoạt động huy động von. Ngành ngân hàng có chức năng chu chuyền vốn trong nên kinh tế, nên nhu cầu về vốn từ ngân hàng là rất lớn. Chính vì vậy, hoạt động đầu tiên của NHTM là huy động vốn.
NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau: Y Nhận tiền gửi của các tô chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. Y Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác dé huy động vốn của tô chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc NHNN chấp thuận. v Vay vốn của các tô chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng nước ngoài. Vv Vay vốn ngăn hạn của NHNN Y Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN * Hoạt động tín dụng.