CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ: 1.1 Một số khái niệm chung về dịch vụ: 1.1 Khái niệm về dịch vụ: Dịch vụ là những hoạt động hay kết quả mà bên bán có thể cung cấp cho bên mua chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với một sản phẩm vật chất nhất định. Hiện có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ, tuy nhiên có một số quan điểm cần lưu ý sau: Theo Adam Smith: “Dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ ôpêra, vũ công… công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra” Theo C.Mác: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển” Ngày nay, vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng quan trọng và đã trở thành chủ đề nghiên cứu của nhiều nhà khoa học.
Do đó có những quan điểm khác nhau về dịch vụ như: Quan điểm đầu tiên: - Theo nghĩa rộng: bên cạnh nông nghiệp và công nghiệp, dịch vụ được xem là một ngành trong nền kinh tế. - Theo nghĩa hẹp: bên cạnh việc bán sản phẩm chính, dịch vụ là phần mềm kèm theo của sản phẩm, bao gồm quá trình hỗ trợ trước trong sau khi bán. Quan điểm thứ hai: - Theo nghĩa rộng: dịch vụ là bao hàm tất cả các hoạt động mà kết quả của nó tồn tại dưới dạng vô hình. Bên cạnh những ngành dịch vụ lâu đời như: ngân 123doc 7 hàng, bảo hiểm, du lịch, giao thông vận tải, thương mại, bưu chính viễn thông, ngày nay dịch vụ mở rộng sang những loại hình mới: dịch vụ tư vấn, dịch vụ văn hóa, bảo vệ môi trường, hành chính… - Theo nghĩa hẹp: dịch vụ là hoạt động đáp ứng nhu cầu nào đó của cá nhận một người hay nhu cầu của tập thể, ví dụ như: khám chữa bệnh, sửa chữa xe cộ nhà cửa … Tóm lại, tổng quát nhất có thể định nghĩa, dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.2 Đặc điểm của dịch vụ 1.1 Tính không mất đi Dịch vụ được cung cấp đến khách hàng nhưng kỹ năng dịch vụ không mất đi sau quá trình này.
Kỹ năng dịch vụ được hoàn thiện hơn sau mỗi lần thực hiện và trở thành kinh nghiệm. Ví dụ như: Người ca sĩ không hề mất đi giọng hát sau một buổi trình diễn thành công hay sau một ca phẫu thuật thành công, bác sĩ không hề mất đi khả năng kỹ thuật của mình.2 Tính phi vật chất hay vô hình Theo C. Mác: "Trong những trường hợp mà tiền được trực tiếp trao đổi lấy một lao động không sản xuất ra tư bản, tức là trao đổi lấy một lao động không sản xuất, thì lao động đó được mua với tư cách là một sự phục vụ, lao động đó cung cấp những sự phục vụ không phải với tư cách là một đồ vật, mà với tư cách là một sự hoạt động”. Dịch vụ mang tính chất vô hình chỉ được đánh giá và cảm nhận thông qua nhận thức chủ quan hay giác quan, chính vì vậy việc đo lường giá trị của dịch vụ cũng không phải bằng các hình thức vật lý như thể tích hay trọng lượng.
Bệnh nhân không thể hình dung được chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh của bác sĩ khi chưa 123doc 8 thực hiện thăm khám và sự đánh giá về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh cũng mang tính chủ quan của người bệnh. Dịch vụ thông tin là một hình thức dịch vụ mới xuất hiện và ngày càng trở nên phổ biến, bao gồm các dịch vụ như: tư vấn, pháp lý, dịch vụ nghe nhìn, viễn thông, máy tính. Nó xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại. Đối với loại hình dịch vụ này quá trình sản xuất và tiêu thụ có thể diễn ra không đồng thời như thường thấy ở những dịch vụ thông thường khác (đòi hỏi phải có sự tiếp xúc trực tiếp giữa nhân viên cung cấp dịch vụ và người yêu cầu dịch vụ) như dịch vụ: vận tải, phân phối, du lịch, y tế… 1.3 Tính không ổn định và khó xác định được chất lượng Dịch vụ cung cấp phụ thuộc nhiều vào các yếu tố hoàn cảnh như: nhân viên cung cấp dịch vụ, khách hàng sử dụng dịch vụ, địa điểm, thời gian dịch vụ được cung ứng… Chất lượng dịch vụ thường không được ổn định và dao động trong một biên độ rất rộng và khó được đo lường rõ ràng.4 Tính không lưu giữ được Như đã nêu trên quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ được diễn ra đồng thời, vì vậy dịch vụ mang đặc điểm không thể lưu giữ được như các ngành sản xuất vật chất khác.
Ví dụ như: Chúng ta không thể mua vé xem vở kịch này để rồi đi xem vở kịch khác được. Do đặc điểm không lưu giữ được này nên các tổ chức cung ứng dịch vụ phải có những dự đoán về nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ của khách hàng để có kế hoạch cung ứng phù hợp. Tuy nhiên, trên thực tế nhu cầu về dịch vụ thường không ổn định, luôn dao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, vì thế các tổ chức cung ứng dịch vụ luôn gặp những trở ngại trong việc sắp xếp nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật để cung cấp cho khách hàng một dịch vụ hoàn hảo nhất.5 Hàm lượng trí thức chiếm tỷ lệ lớn. Đối với dịch vụ người ta không cần các máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất, nguyên nhiên liệu hữu hình hay các nhà máy phân xưởng, mà yếu tố giữ vai 123doc 9 trò quan trọng trong quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ là con người.
Vai trò của con người trong cung ứng dịch vụ thể hiện qua việc sử dụng các kỹ năng chuyên biệt và chất xám cùng sự trợ giúp của công cụ dụng cụ, trang thiết bị thay cho sức mạnh của cơ bắp hay các quy trình sản xuất gắn với dây chuyền và nhà máy khổng lồ. Với các ngành dịch vụ hiện đại như: tư vấn đầu tư, dịch vụ săn đầu người, tổ chức sự kiện… thì hàm lượng chất sám càng đòi hỏi cao hơn. Những ngành dịch vụ có tính truyền thống như vận tải, du lịch, chuyển phát… tuy tầm quan trọng của các trang thiết bị hỗ trợ hữu hình chiếm tỷ trọng tương đối cao, tuy vậy, vai trò của tri thức vẫn là yếu tố không thể thiếu và tạo nên sự riêng biệt cho dịch vụ của từng đơn vị.6 Sự nhạy cảm của dịch vụ đối với tốc độ thay đổi của công nghệ Dịch vụ là ngành yêu cầu sự đổi mới liên tục và vận dụng chất sám sáng tạo. Chính vì vậy, có thể thấy chuẩn chất lượng dịch vụ không ngừng được nâng cao, cung ứng dịch vụ trở nên chuyên nghiệp hóa, các lĩnh vực dịch vụ mới không ngừng ra đời và phát triển.
Một trong những lĩnh vực có đầy sự nhạy cảm của dịch vụ với tốc độ thay đổi của công nghệ là dịch vụ điện thoại di động. Chỉ trong 20 năm trở lại đây sự thay đổi từ điện thoại thế hệ đầu tiên sang Smart phone là điểm rõ nét nhất cho sự thay đổi dịch vụ theo công nghệ. Ngành điện thoại chuyển từ ngành sản xuất (tạo ra các sản phẩm về hữu hình) sang phát triển các tính năng phụ trợ như camera, game, cảm ứng, công nghệ nhận diện, công nghệ bảo mật và các ứng dụng khác trên smart phone.3 Phân biệt giữa hoạt động dịch vụ với hoạt động sản xuất vật chất: Bảng 1.1: Phân biệt hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động sản xuất dịch vụ: Hoạt động sản xuất vật Hoạt động dịch vụ chất 123doc 10 Sản Sản phẩm được tiêu chuẩn Sản phẩm không xác định cụ thể phẩm_ hóa bằng các tiêu chuẩn kỹ bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật. Chất Chất thuật.
Chất lượng sản phẩm lượng phụ thuộc vào người cung lượng sản dể dàng được đánh giá căn ứng, người mua (cảm nhận) và thời phẩm cứ trên các tiêu chuẩn ban điểm cung cấp dịch vụ. Sản xuất_ Quá trình sản xuất và tiêu Quá trình sản xuất sản phẩm dịch vụ Tiêu thụ thụ là 2 phân đoạn khác và tiêu thụ diễn ra đồng thời, không nhau và có thể thông qua thể dự trữ được. dự trữ Khách Khách hàng lựa chọn sản Sản phẩm dịch vụ phụ thuộc nhiều hàng phẩm dựa trên chất lượng vào chất lượng tiếp xúc, vào sự tác sản phẩm, nhãn hiệu và ký động qua lại giữa nhà cung ứng và hiệu sản phẩm, không quan người được phục vụ. Các yếu tố về tâm nhiều đến nhà sản xuất sự hài lòng trong giao tiếp, sự đáp và nhà cung cấp ứng kịp thời nhu cầu và người cung ứng dịch vụ trực tiếp được khách hàng chú trọng.
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Tóm lại, hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động sản xuất dịch vụ có những điểm khác biệt nêu trên. Việc tìm hiểu không nhằm phân chia ranh giới một cách quá cứng nhắc giữa hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động dịch vụ vì sẽ dễ dẫn đến sai lầm. Những đặc điểm trên đã tạo ra những nét đặc thù cho các doanh nghiệp dịch vụ, trong đó yếu tố con người giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Qui mô sản xuất ngày một lớn, tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng nhanh và các mối quan hệ giao dịch thương mại ngày càng phát triển thì càng đặt ra nhiều yêu cầu mới cho hoạt động dịch vụ.2 Tổng quan về dịch vụ ngân hàng: 1.1 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng: Ngân hàng được hình thành với bản chất là một dạng đơn vị kinh doanh tiền tệ thu lợi nhuận từ các khoản lãi và phí của khách hàng.
Hoạt động ngân hàng được xét vào nhóm ngành dịch vụ bởi nó không trực tiếp tạo ra sản phẩm hữu hình cụ thể mà chức năng chính là điều phối luồng tiền, hỗ trợ thanh toán và thực hiện một số dịch vụ khác. Trên nền tảng cung cấp các sản phẩm dịch vụ truyền thống, NHTM hiện nay phát triển danh mục sản phẩm dịch vụ ngày càng đa dạng, mức độ đa dạng của danh mục sản phẩm dịch vụ tùy thuộc vào mức độ phát triển của từng ngân hàng.