CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC CHUẨN MỰC CỦA HIỆP ƯỚC BASEL TRONG ĐẢM BẢO AN TOÀN VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về Hiệp ước Basel 1.1 Sự hình thành và hoạt động của Ủy ban Basel Vào những năm 1980, hệ thống NHTM trên thế giới phát triển mạnh và có những dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh giữa các NH. Đồng thời, quy định về vốn điều lệ của các NHTM ở các nước khác nhau nên dẫn đến việc cạnh tranh không công bằng trong cùng một thị trường, đây là điều cấm kỵ trong cơ chế hội nhập. Vì vậy lãnh đạo các nước phát triển đã ngồi lại với nhau để tìm giải pháp thích hợp vừa khuyến khích cạnh tranh vừa đảm bảo công bằng và an toàn cho người gửi tiền, đó là một trong những lý do quan trọng cho sự ra đời Hiệp ước Basel (Basel). Hiệp ước Basel là yêu cầu về an toàn vốn do các NH thuộc nhóm 10 nước phát triển khởi xướng và được Ủy ban Quản lý NH thuộc NH Thanh toán Quốc tế (BIS) ban hành lần đầu tiên vào năm 1988, xuất phát từ những cuộc khủng hoảng về tiền tệ quốc tế và thị trường NH, mà đáng quan tâm nhất là sự sụp đổ của NH Herstatt ở Tây Đức vào thời điểm đó.
Do tính thiết thực của nó nên cộng đồng các tổ chức tài chính, NH của hơn 100 nước khác cùng hưởng ứng. Để phù hợp với những thay đổi lớn của thị trường, Basel đã được cải tiến và sửa đổi lần thứ hai (Basel II) vào năm 2001 và có hiệu lực vào năm 2006. Ủy ban Basel bao gồm Thống đốc NHTW của các nước thuộc nhóm 10 nước phát triển và một số nước có hệ thống NH lớn mạnh hàng đầu thế giới bao gồm Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Italia, Nhật, Luxembua, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ đã kí Hiệp ước Basel (Basel Accord), một cơ quan gọi là Hội đồng Basel về giám sát NH quốc tế cũng đã được chính thức thành lập để theo dõi và chỉ đạo việc thực thi Hiệp ước. Ngoài ra, hệ thống NH của nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đã đồng thuận tham gia tuân thủ Hiệp ước này.
Ủy ban Basel tổ chức họp thường niên tại trụ sở NH thanh toán quốc tế (BIS) tại Washington DC – Mỹ hoặc tại Thành phố Basel (còn gọi là Basle) – Thụy Sĩ. Ban thư ký thường trực của Ủy ban này cũng có trụ sở làm việc tại Washington DC – Mỹ. Quan điểm của Ủy ban Basel là sự yếu kém trong hệ thống NH của một quốc gia dù là phát triển hay đang phát triển đều có thể đe dọa không chỉ đến sự ổn định về tài chính của quốc gia đó 123doc 5 mà còn cả trên phạm vi toàn thế giới. Ủy ban Basel thường xuyên tổ chức các cuộc thảo luận xoay quanh sự hợp tác quốc tế để giảm bớt khoảng cách trong công tác giám sát NH, nâng cao chất lượng công tác giám sát hoạt động NH trên toàn thế giới.
Để làm được điều này, Ủy ban Basel đã cố gắng tìm hiểu và thực hiện được 3 điều cơ bản là: Trao đổi thông tin về hoạt động giám sát cấp quốc gia; Cải thiện hiệu quả kỹ thuật giám sát hoạt động NH quốc tế; Đặt ra những tiêu chuẩn giám sát tối thiểu trong những lĩnh vực mà Ủy ban thực sự quan tâm.2 Những chuẩn mực cơ bản của Basel I Năm 1988, Ủy ban về giám sát NH đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ước về vốn của Basel (Basel I). Basel I ra đời nhằm củng cố sự ổn định của toàn hệ thống NH quốc tế, thiết lập một hệ thống NH quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các NH hoạt động quốc tế. Basel I gồm các nội dung chủ yếu sau: Tiêu chuẩn 1: tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro (Tỷ lệ Cook): Tỷ lệ này được phát triển bởi Ủy ban Basel với mục đích củng cố hệ thống NH quốc tế, đối tượng ban đầu là những NH hoạt động quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn 100 quốc gia. NH phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của tài sản có trọng số rủi ro, được tính toán theo nhiều phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào mức độ rủi ro của chúng: Tổng vốn CAR = ≥ 8% Tài sản có trọng số rủ ro (RWA) Tiêu chuẩn này quy định 5 định mức về vốn như sau: - Mức vốn tốt : CAR > 10% - Mức vốn thích hợp : CAR > 8% - Thiếu vốn : CAR < 8% - Thiếu vốn rõ rệt : CAR < 6% - Thiếu vốn trầm trọng : CAR < 2% Tiêu chuẩn 2: Vốn cấp 1, Vốn cấp 2, Vốn cấp 3: Basel I đã đưa ra định nghĩa chung nhất về vốn và tỷ lệ vốn an toàn của NH.
Đến 1996, Basel I được sửa đổi bổ sung thêm rủi ro thị trường, theo đó rủi ro thị trường bao gồm cả rủi ro thị trường chung và rủi ro thị trường cụ thể. Rủi ro thị trường chung đề cập đến những thay đổi về giá trị thị trường do biến động lớn trên thị trường. Rủi ro thị trường cụ thể là những thay đổi giá trị 123doc 6 một loại tài sản nhất định. Có bốn loại biến số kinh tế làm phát sinh rủi ro thị trường, đó là: tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, chứng khoán và hàng hóa.
Khi đó tiêu chuẩn về vốn của NH quy định: Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3 - Vốn cấp 1 (Vốn nòng cốt): gồm lượng vốn dự trữ sẵn có chắc chắn và các nguồn dự phòng được công bố như vốn điều lệ, vốn cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, dự phòng các khoản vay. - Vốn cấp 3 (dành cho rủi ro thị trường): là các khoản vay ngắn hạn Giới hạn về vốn: Vốn tự có = Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2 Trong đó: - Vốn cấp 2 ≤ 100% Vốn cấp 1 - Nợ thứ cấp có kỳ hạn ≤ 50% Vốn cấp 1 - Dự phòng chung ≤ 1,25% tài sản có rủi ro - Dự trữ đánh giá lại tài sản được chiết khấu 55% Tiêu chuẩn 3: tài sản có trọng số rủi ro (RWA) Tài sản có trọng số rủi ro (RWA) = Tài sản x Trọng số rủi ro Mỗi loại tài sản (cả nội bảng và ngoại bảng) có hệ số rủi ro khác nhau (Phụ lục 1), các trọng số rủi ro khác nhau ứng với những loại tài sản khác nhau sẽ cho yêu cầu về vốn khác nhau. Hiệp ước Basel I mang tính chất thỏa thuận quốc tế các tiêu chuẩn về vốn và chỉ áp dụng trong hoạt động của các NH quốc tế thuộc nhóm 10 nước phát triển và sau này trở thành chuẩn mực quốc tế về vốn tự có được áp dụng trên 100 quốc gia. Nó quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và quản lý rủi ro tín dụng đối với NH, và là một trong những căn cứ, tiêu chuẩn để các NH của các quốc gia trên thế giới áp dụng quản lý, bảo đảm an toàn trong hoạt động.
Bộ 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng: (Phụ lục 2) Tháng 10/1999, Ủy ban Basel đã giới thiệu bộ 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát hệ thống NH hiệu quả, bao gồm một số nhóm nội dung chủ yếu sau: 123doc 7 - Nhóm nguyên tắc về điều kiện tiên quyết cho việc giám sát NH hiệu quả: Nguyên tắc 1. - Nhóm nguyên tắc về cấp phép và cơ cấu: từ Nguyên tắc 2 đến Nguyên tắc 5. - Nhóm nguyên tắc về các quy định và yêu cầu thận trọng: từ Nguyên tắc 6 đến Nguyên tắc 15. - Nhóm nguyên tắc về giám sát nghiệp vụ NH: từ Nguyên tắc 16 đến 20 - Nhóm nguyên tắc về yêu cầu thông tin: Nguyên tắc 21.
- Nhóm nguyên tắc về quyền hợp pháp của chuyên gia giám sát: Nguyên tắc 22. - Nhóm nguyên tắc về NH xuyên biên giới: từ Nguyên tắc 23 đến 25. Những thiếu sót của Basel I: Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm 1988, Uỷ ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các NHTM và đến năm 1996, Basel I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thị trường. Mặc dù vậy, Basel I vẫn có khá nhiều điểm hạn chế.
Một trong những điểm hạn chế cơ bản của Basel I là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro họat động (không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro hoạt động). Ngoài ra vẫn còn một số điểm hạn chế khác như: Phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản vay; Hệ số rủi ro chưa chi tiết cho rủi ro theo đối tác (ví dụ như năng lực tài chính của khách hàng), hay theo đặc điểm của khoản vay (thời hạn trả nợ). Điều này cho rằng có thể các NH khác nhau có cùng tỷ lệ an toàn vốn nhưng có thể đang đối mặt với các loại rủi ro khác nhau với mức độ và quy mô khác nhau; Chưa tính đến lợi ích của đa dạng hóa hoạt động, rủi ro sẽ giảm khi đa dạng hóa danh mục đầu tư. Tuy nhiên Basel I đưa ra quy định về vốn không khác biệt giữa NH có hoạt động kinh doanh đa dạng (ít rủi ro hơn) và NH kinh doanh tập trung (rủi ro cao hơn), một khoản nợ riêng lẻ yêu cầu một lượng vốn bằng với một danh mục đầu tư được đa dạng hóa với cùng một giá trị, ví dụ như không có khác biệt nào về yêu cầu về vốn giữa một khoản vay 100 USD và 100 khoản vay 1 USD (ít rủi ro hơn).3 Những chuẩn mực cơ bản của Basel II Nhằm khắc phục các hạn chế của Hiệp ước Basel I và đáp ứng nhu cầu thực tiễn hoạt động của hệ thống NH, từ năm 1999 Uỷ ban Basel đã nỗ lực đưa ra một Hiệp ước mới thay thế cho Basel I, và bản Hiệp ước quốc tế mới về vốn của Basel (Basel II) đã chính thức được ban hành vào năm 2004 với mục tiêu: Nâng cao chất lượng và sự ổn định 123doc 8 của hệ thống NH quốc tế; Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẵng cho các NH trên bình diện quốc tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro.