Chương 1 tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi cũng như dữ liệu và phương pháp nghiên cứu nhằm xem xét tác động của việc ĐDHTN đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam giai đoạn từ 2008 – 2020. Và để có thể hiểu rõ hơn về các khái niệm như ĐDHTN, lợi nhuận NHTM, cũng như các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của ĐDHTN đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trên thế giới cũng như tại Việt Nam thì chương 2 sẽ làm rõ những vấn đề này. 0 0 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HOÁ THU NHẬP ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP CỦA NHTM 2.
Khái niệm về đa dạng hóa thu nhập ngân hàng Đa dạng hoá (ĐDH) (diversification) là một dạng chỉ số dùng để biểu hiện mức độ phi tập chung của một yếu tố. Theo Grant & Jordan (2015), ĐDH là việc mở rộng ,cải biến hay tăng thêm lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh so với các sản phẩm truyền thống đã có trước đây. Tương tự, Montgomery (1982), Weichieh & Tsang (2015), ĐDH là việc gia tăng số lượng nhiều hơn một sản phẩm hoặc ĐDH hoạt động kinh doanh sang nhiều nhóm lĩnh vực. Đa dạng hoá thu nhập (ĐDHTN) ngân hàng, Elsas & ctg (2010), là việc các NHTM nhằm gia tỷ trọng thu nhập phi lãi sẽ dần dịch chuyển cơ cấu tổng nguồn thu nhập bằng cách từ những hoạt động kinh doanh truyền thống như thu lãi tiền gửi hay tiền vay sẽ dần đẩy mạnh qua các hoạt động thu phí dịch vụ hay phí hoa hồng, khi nguồn thu nhập từ phí đã ổn định sẽ tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động phi lãi khác như hoạt động đầu tư hay hoạt động thương mại theo đó gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập.
Với ĐDHTN, Hoàng Thị Hương Thảo (2017), NHTM sẽ có hai nguồn thu nhập chính là: thu nhập truyền thống (Thu nhập từ lãi) và thu nhập phi truyền thống (Thu nhập phi lãi). Thu nhập truyền thống (Thu nhập từ lãi) là các khoản thu nhập phụ thuộc chính vào các hoạt động tín dụng của ngân hàng, bao gồm: - Thu lãi từ các hoạt động cho vay: bao gồm thu lãi từ cho vay khách hàng, các hoạt động tín dụng, … - Thu từ hoạt động tiền gửi: thu lãi tiền gửi định kỳ từ các tổ chức tín dụng (TCTD), ngân hàng Nhà nước (NHNN),… tiền lãi từ hoạt động cho vay qua đêm giữa các NHTM. - Thu từ các hoạt động đầu tư chứng khoán nợ như: trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ tiền gửi (CD), trái phiếu đô thị, cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu tài sản cho vay cầm cố (CMO), nghĩa vụ nợ có thế chấp (CDO),… 0 0 Có thể thấy, hoạt động từ việc thu nhập truyền thống vẫn là một hoạt động chủ chốt của NHTM bởi vì nó chiểm tỷ trọng lớn và là khoản thu quan trọng đối với mỗi ngân hàng. Thu nhập phi truyền thống (Thu nhập phi lãi) là các khoản thu nhập khác của ngân hàng.
Các khoản thu này sẽ không bị yếu tố thị trường lãi suất tác động đến, bao gồm: - Các khoản thu từ phí dịch vụ: bao gồm phí chuyển tiền, phí thường niên thẻ, phí bảo lãnh,… và các khoản phí hoa hồng. - Các khoản thu từ hoạt động thương mại: mua bán ngoại tệ, mua bán chứng khoán, bảo hiểm, … - Các khoản thu từ các hoạt động đầu tư: lãi từ hoạt động liên kết kinh doanh, đầu tư chứng khoán nợ, góp vốn mua cổ phần… - Các khoản thu khác: là các khoản thu trong quá trình phát sinh không thường xuyên như thu lãi phạt nợ quá hạn, thanh lý nợ, tài sản… Những hình thức ĐDHTN gồm: ĐDHTN qua việc thay đổi hay làm phong phú mới các sản phẩm dịch vụ đã có từ trước, mở rộng thêm thị trường sẵn có và thông qua việc ĐDH thuần túy, Lipczynski và ctg (2005). Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngân hàng càng mở rộng nhiều chiến lược về ĐDHTN hay tăng các hoạt động tạo ra từ thu nhập ngoài lãi thì lợi nhuận ngân hàng càng tăng thêm, Landskroner & ctg, (2005); Chiorazzo & ctg (2008); Baele & ctg, (2007); Elsas & ctg, (2010); Gurbuz & ctg, (2013). Chỉ tiêu đo lường đa dạng hoá thu nhập của NHTM ĐDHTN của ngân hàng được đo bởi chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI), chỉ số này sẽ được đo lường bằng cách chia tổng thu nhập thành thu nhập truyền thống, thu nhập phi truyền thống (Chiorazzo và ctg (2008), Sanya và ctg (2011), Sissy & ctg (2016)).
2 NONINTERESTit 2 INTERESTit HHI = 1- + TOTALINCOMEit TOTALINCOMEit Trong đó: INTERESTit là thu nhập từ lãi thuần của Ngân hàng i trong năm t. NONINTERESTit là thu nhập phi lãi của Ngân hàng i trong năm t. TOTALINCOMEit là tổng thu nhập ròng của Ngân hàng i trong năm t và TOTALINCOMEit = INTERESTit + NONINTERESTit 0 0 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 2.
Khái niệm hiệu quả hoạt động của NHTM Có thể thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh được định nghĩa bằng nhiều quan điểm khác nhau. Một số nghiên cứu cho rằng hiệu quả lại là phép so sánh giữa nguồn được nhận vào đối với nguồn ra hay chính là giữa lợi nhuận và chi phí. Với cùng một nguồn đầu vào được cho trước, hoạt động nào cho ra nguồn ra lớn hơn sẽ là hoạt động có hiệu quả hơn so với hoạt động còn lại. Trong khi đó, theo nghiên cứu của Nguyễn Khắc Minh, (2004), hiệu quả là “mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã định trước”.
Tóm lại, hiệu quả hoạt động của NHTM có thể hiểu theo ba hướng chính sau: (1) giảm thiểu chi phí đến mức tối đa, có nghĩa là sử dụng ít nhất có thể đối với những yếu tố đầu vào như đầu tư cơ sở vật chất, thuê nhân công, … để tạo ra thu nhập, (2) giữ nguyên nguồn đầu vào nhưng lượng đầu ra được tạo ra nhiều hơn, (3) tăng yếu tố từ nguồn đầu vào nhưng lượng tạo ra từ nguồn đầu ra phải tăng nhanh hơn so với tốc độ đã tăng ở nguồn đầu vào. Một số chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng (1) ROA (Return on Assets) là khả năng sinh lời trên tổng tài sản, hay là một chỉ số đo lường thể hiện sự tương quan giữa khả năng sinh lãi với tài sản ròng (Bao gồm Vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả). Có thể hiểu ROA là chỉ số đo lường hiệu quả sử dụng tài sản, tức là số tiền lãi kiếm được trên một đồng tài sản. ROA càng cao thì cho thấy khả năng sử dụng tài sản của ngân hàng càng có hiệu quả (Chiorazzo và ctg (2008), Sissy và ctg (2016)).
Ngược lại, nếu chỉ số này thấp (<1%, Theo chuẩn mực đánh giá năng lực tài chính của Moody’s) thể hiện tình hình hoạt động kinh doanh kém hiệu quả hay cơ cấu tài sản là chưa hợp lý. Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản (2) ROE (Return on Equity) là chỉ số đánh giá khả năng sinh lời trên vốn, hay có thể hiểu ROE chính là đo lường hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu, cho biết một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng (Chiorazzo và ctg (2008), Sissy và ctg (2016)). ROE là một trong những chỉ tiêu quan trọng để so sánh mức độ sức khoẻ của ngân hàng này so với các ngân hàng khác ở hiện tại, thường ROE nằm trong khoảng từ 12%-15% trở lên (Theo chuẩn mực đánh giá năng lực tài chính của Moody’s) sẽ được coi là một doanh nghiệp có lợi nhuận tốt. 0 0 Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu (3) NIM (Net Interest Margin) là thước đo chênh lệch giữa phần trăm thu nhập từ lãi của ngân hàng với số tiền chi lãi phải trả (Maudos & Guevera, 2004), biểu thị phần trăm chênh lệnh mà ngân hàng được hưởng từ hoạt động tín dụng đối với hoạt động huy động vốn.
Hệ số NIM dương và càng cao thì thể hiện số phần trăm chênh lệnh ngân hàng hưởng được càng lớn (Pham & Nguyen, 2013), ngược lại nếu chỉ số này âm đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ không thu dược bất kỳ khoản lợi nhuận nào từ hoạt động đầu tư đó. Thu nhập từ lãi thuần NIM = Tài sản sinh lãi (4) Size tổng tài sản hoặc AGR (Asset Growth Rate) là tốc độ tăng trưởng tài sản, nhiều nghiên cứu của Dawar (2014), Sheikh và Wang (2013) đã chỉ ra rằng tổng tài sản hoặc tốc độ tăng trưởng của tài sản có tác động tích cực tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng,. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Kumbhakar & Wang (2007), nếu ngân hàng quá chú trọng vào đầu tư sẽ dẫn đến việc làm gia tăng chi phí, từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Ngược lại, theo nghiên cứu của Tan (2016), Chirwa (2003) lại chỉ ra rằng nếu ngân hàng càng cho vay càng nhiều thì cơ hội thu lãi càng cao, từ đó làm gia tăng lợi nhuận có được.
Cho vay Loan = Tổng tài sản 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HOÁ THU NHẬP ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 2. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (Modern Porfolio Theory) MPT được giới thiệu trong bài báo “Lựa chọn danh mục đầu tư” bởi tác giả Harry Markowitz (1950) trong tạp chí Journal of Finance. Theo lý thuyết này thì đây là một lý thuyết cho rằng các nhà đầu tư không thích rủi ro có thể tối thiểu hóa rủi ro thị trường cho một mức tỷ suất sinh lời kỳ vọng nhất định bằng việc xây dựng danh mục đầu tư một cách tối ưu hóa hay tối đa hóa lợi nhuận kì vọng trên một mức 0 0 độ rủi ro nhất định của thị trường.
Trong đó, rủi ro là một phần cần được xem là đánh đổi để có được lợi nhuận cao hơn. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại được hiểu theo một kiểu đơn giản hóa là “Đừng bỏ tất cả trứng vào một cái giỏ”. MPT đã được thiết lập khái nhiệm “Đường biên hiệu quả”. Một danh mục đầu tư hiệu quả là một danh mục tối đa hóa lợi nhuận với một mức rủi ro thấp nhất.
Mặt khác nếu mức rủi ro cao hơn sẽ đi kèm với tỷ suất sinh lời cao hơn. Theo nghiên cứu của Koponen (2003) cho thấy rằng thu nhập ngoài lãi đem lại lợi nhuận ổn định hơn so với các hoạt động thu nhập lãi thuần từ hoạt động tín dụng.