Chương I đề cập một cách tổng quan về luận văn nghiên cứu và xác định các câu hỏi nghiên cứu. Trọng tâm của chương II là trình bày khái quát một số nghiên cứu trước ở các nước trên thế giới (2.3) để làm cơ sở cho việc xây dựng giả thuyết nghiên cứu của đề tài (2.4) và phát triển mô hình trong chương 3. Đồng thời chương này cũng giới thiệu về sự cần thiết của công bố thông tin trên thị trường chứng khoán (2.1) và cơ sở lý thuyết thường được các tác giả sử dụng để giải thích trong các nghiên cứu của mình (2.1 Sự cần thiết của công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Trong phần này, đề tài sẽ đề cập tới sự cần thiết của công bố thông tin trên thị trường chứng khoán với các đối tượng sử dụng: công ty, ngân hàng niêm yết (mục 2.1), đối với nhà đầu tư (mục 2.2) và đối với thị trường chứng khoán (mục 2.1 Đối với công ty, ngân hàng niêm yết Các nhà quản lý phải đối mặt với sự cân bằng giữa tiết lộ thông tin có thể giúp thị trường vốn đánh giá chính xác giá trị của công ty, và che giấu thông tin để tránh những hậu quả tiềm năng đến vị thế cạnh tranh của công ty. Việc cân bằng giữa lợi ích và chi phí của công bố thông tin cũng được Verrecchia (1983) đề cập trong nghiên cứu của mình.
Chi phí liên quan tới công bố thông tin tự nguyện bao gồm chi phí thu nhập, lưu trữ, kiểm toán và chi phí cạnh tranh bất lợi. Chi phí cạnh tranh bất lợi là nguy cơ cạnh tranh đến từ các công ty đối thủ. Các công ty cạnh tranh có thể sử dụng các thông tin liên quan đến chiến lược, đổi mới công nghệ, quản lý hoạt động mà công ty đã công bố để phát triển một sản phẩm tương tự hoặc cập nhật sản phẩm. Tuy vậy, Kristandl và Bontis (2007) cho rằng những chi phí liên quan đến việc công bố thông tin sẽ được bù đắp lại từ những lợi ích do việc công bố thông tin mang lại, thậm chí các hiệu ứng từ sự tăng cường minh bạch và ổn định của ngân hàng còn đem lại lợi ích lớn hơn so với chi phí đã bỏ ra.
8 Kristandl và Bontis (2007) còn nhận thấy chi phí vốn của công ty có thể giảm thông qua việc tăng cường mức độ công bố thông tin. Theo đó, việc công bố thông tin trong các báo cáo hằng năm là một chiến lược cụ thể nhằm cải thiện sự bất đối xứng thông tin giữa công ty và nhà đầu tư, từ đó làm giảm chi phí tài chính bên ngoài. Nghiên cứu của Healy và Palepu (2001) cho rằng công bố thông tin nhiều hơn thì có chi phí vốn thấp hơn. Trong những năm gần đây, về cơ bản thì bản chất kinh doanh đã thay đổi, lợi thế cạnh tranh ngày càng liên quan đến quá trình tạo ra giá trị dựa vào tài sản vô hình (Carlos et al, 2013).
Phục vụ nhu cầu thông tin của thị trường và cung cấp các thông tin cần thiết để thể hiện tính minh bạch và đáp ứng các yêu cầu giải trình là một trong những quá trình tạo ra tài sản vô hình của công ty (Beattie et al, 2004). Jeffrey et al (2013) tìm thấy mối liên hệ giữa công bố thông tin và mức cạnh tranh trong ngành ngân hàng. Qua đó, ngân hàng càng có mức độ công bố thông tin càng cao thì sức cạnh tranh của ngân hàng đó càng cao.2 Đối với nhà đầu tư Ngoài lợi ích từ việc giúp công ty giảm được chi phí vốn, Karim và Ahmed (2005) còn tìm thấy lợi ích của việc công bố thông tin là làm giảm khoảng cách giữa công ty với nhà đầu tư và chủ nợ, từ đó nâng cao giá trị cổ phiếu trên thị trường vốn, giảm chi phí giao dịch và do đó làm tăng nhu cầu đối với cổ phiếu của công ty. Nghiên cứu của Baumann và Nier (2004) về ngành ngân hàng cũng đồng tình khi đưa ra kết luận về mối liên hệ nghịch biến giữa công bố thông tin và biến động giá cổ phiếu, theo đó, cả hai cho rằng việc tăng cường công bố thông tin sẽ làm giảm sự biến động của giá cổ phiếu.
Haddad et al (2009) nhận thấy rằng việc tăng cường công bố thông tin tự nguyện sẽ giúp giảm thiểu khoảng cách giữa lệnh đặt mua – lệnh đặt bán trong các hoạt động giao dịch cổ phiếu, làm giảm chi phí vốn và do đó cải thiện tính thanh khoản của thị trường. Một trong những yêu cầu chính của nhà đầu tư và chủ nợ là có được thông tin về công ty đối tượng, bởi vì họ đang ở ngoài việc kinh doanh nên việc đưa ra quyết định đầu tư sẽ phụ thuộc vào các thông tin được công bố trong báo cáo của công ty. Vì vậy cung cấp thông tin đầy đủ cho nhà đầu tư và chủ nợ trong các báo cáo là rất quan trọng. Theo Flannery (2001), khả năng các nhà đầu tư, chủ nợ theo dõi và đánh giá những thay đổi các điều kiện của ngân hàng và khả năng ảnh hưởng của họ đến các 9 nhà quản lý đều bị ảnh hưởng bởi số lượng và chất lượng thông tin được công bố.
Do đó khi vấn đề thông tin bất cân xứng có tồn tại thì nhà đầu tư và chủ nợ có thể cho rằng các công ty đang che giấu thông tin và dẫn tới sự gia tăng lãi suất trong chi phí vay vì họ phải tự bảo vệ mình trước các thông tin không đầy đủ nhận được từ công ty.3 Đối với thị trường chứng khoán Đã có nhiều nghiên cứu về việc công bố thông tin nhiều hơn sẽ giảm rủi ro trong ngân hàng. Kỷ luật thị trường, một phần thông qua việc công bố thông tin, cũng có thể tác động đến việc quản lý từ đó có thể ngăn chặn một kết quả tiêu cực và các phản ứng thị trường sau đó. Theo đó, việc công bố thông tin có thể xem như là một phương tiện cam kết, bằng cách cung cấp đầy đủ cho thị trường về tình trạng và triển vọng tương lai của ngân hàng, nhằm hạn chế những rủi ro theo đó sẽ gây ra bất lợi cho cả nhà đầu tư và chủ nợ (Cumming và Hirtle, 2001) từ đó giúp thị trường trở nên minh bạch và hoạt động hiệu quả hơn. Việc tăng cường thông tin trong các báo cáo sẽ giúp cho nhà đầu tư, các chủ nợ và các bên liên quan có được các giả định hợp lý về tình trạng của ngân hàng, từ đó chấp nhận hậu quả của rủi ro và cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận.
Nicole (2009) cho rằng việc minh bạch bằng cách công bố thông tin rõ ràng đầy đủ có thể ngăn chặn các ngân hàng chấp nhận các rủi ro quá mức và cho phép các chủ nợ và các nhà đầu tư có thể quyết định mức độ rủi ro thích hợp cho ngân hàng. Khi các nhà đầu tư, chủ nợ có thể quyết định mức độ rủi ro thích hợp cho ngân hàng, hay là dự báo giá trị chính xác hơn thì cổ phiếu đó chịu ít sự biến động, ngoài ra, theo lý thuyết, việc công bố nhiều thông tin, mà dựa vào đó các nhà đầu tư và chủ nợ có thể đánh giá tình trạng của công ty, sẽ có thể tạo ra phản ứng thị trường quan trọng để thay đổi tình trạng bất lợi. Barako (2004) tìm thấy mức độ công bố thông tin tốt có tác động tích cực trở lại cổ phiếu, và việc tiết lộ thông tin tự nguyện phi tài chính có thể nâng cao giá trị cổ phiếu của một công ty, sức cạnh tranh cũng như uy tín xã hội của công ty đó. Tóm lại, việc tăng cường công bố thông tin sẽ giúp cho các công ty ổn định huy động vốn bên ngoài với chi phí vốn thấp, chi phí nợ giảm, tính thanh khoản của cổ phiếu được gia tăng và giá trị cổ phiếu được nâng cao ngoài ra việc tăng cường công bố thông tin còn nâng cao vị thế cạnh tranh và uy tín của công ty.
Riêng đối với các 10 ngân hàng thì việc tăng cường minh bạch thông tin còn cho thấy sự ổn định của ngân hàng, kiểm soát và hạn chể rủi ro xảy ra cho ngân hàng.2 Cơ sở lý thuyết Có nhiều lý thuyết được sử dụng để giải thích cho việc công bố thông tin của các công ty, nhưng lý thuyết về người đại diện và lý thuyết tín hiệu là hai lý thuyết được nhiều tác giả sử dụng cho mục đích lý giả về hành vi tăng cường công bố thông tin của các công ty. Nghiên cứu cũng chọn hai lý thuyết này để làm giải thích chính cho các hành vi công bố thông tin tự nguyện của các ngân hàng.1 Lý thuyết người đại diện - Agency Theory: Phát triển bởi Jensen và Meckling (1976), lý thuyết người đại diện định nghĩa về "mối quan hệ giữa các bên, chẳng hạn như các cổ đông và các đại lý như giám đốc điều hành công ty và các nhà quản lý". Theo đó, luôn có một sự đối nghịch về lợi ích giữa chủ sở hữu và người quản lý hay đại diện công ty. Người chủ sở hữu vốn quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu đó là lợi ích của chính họ.
Trong khi đó, người quản lý về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợi ích cổ đông mà quan tâm đến lợi ích của mình (lương, thưởng, phụ cấp…). Nếu người quản lý là người sở hữu toàn bộ công ty thì họ sẽ đưa ra các quyết định điều hành nhằm tối đa hóa lợi ích của mình. Các quyết định điều hành không chỉ mang lại lợi ích về mặt tài chính mà còn mang lại các lợi ích phi tài chính khác cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Nếu người quản lý không sở hữu toàn bộ công ty, tức là có sự phân chia lợi ích giữa người quản lý và các cổ đông bên ngoài.
Khi đó, các quyết định điều hành của nhà quản lý sẽ nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích của chính mình chứ không phải tối đa hóa lợi ích của cổ đông. Việc không đồng nhất về lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý làm phát sinh một loại chi phí được gọi là chi phí người đại diện. Do đó để bảo đảm trách nhiệm giải trình của cũng như giám sát hành động của ban điều hành, họ cần các thông tin tài chính cũng như phi tài chính. Tuy nhiên, vẫn có sự tồn tại của bất cân xứng thông tin khi mà ban điều hành có thể có các thông tin bên trong nhưng nó lại bị giới hạn với các đối tượng bên ngoài.