Chương 1.Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tại NHTM.Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV).Kết luận và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của BIDV.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠINGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM). Lý thuyết về hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt độngtại ngân hàng thương mại.Khái quát về hoạt động và hiệu quả hoạt động của NHTM. Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường đã làm biến đổi mạnh mẽ hệ thống ngân hàng thương mại từ những hệ thống ngân hàng giản đơn, sơ khai ban đầu nay đã trở thành những ngân hàng hiện đại, những tập đoàn tài chính khổng lồ, đa quốc gia.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, các tư tưởng kinh tế, sự đa dạng hóa của các sản phẩm dịch vụ và đặc thù hoàn cảnh thực tế của từng quốc gia, từng đạo luật mà khái niệm ngân hàng thương mại có thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau.Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 thì định nghĩa “ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cảcác hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Như vậy, ta có thể hiểu ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính được thành lập theo quy định của luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật, được phép nhận tiền gửi để cho vay, cung ứng dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác. Như vậy, rõ ràng ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính có vai trò quan trọng, là hệ tuần hoàn vốn của nền kinh tế. Trước hết, với vài trò trung gian tài chính, ngân hàng thương mại thực hiện việc chuyển các khoản tiết kiệm (chủ yếu từ hộ gia đình) thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các tác nhân khác thực hiện các hoạt động đầu tư. Đồng thời, ngân hàng thương mại là chủ thể cung cấp các khoản tín dụng cho người tiêu dùng với quy mô lớn 5 nhất và cung cấp vốn lưu động, vốn trung hạn và dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp.
Các hoạt động của ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho công chúng cũng như thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế.Hoạt động ngân hàng rất đa dạng và phức tạp, bao gồm nhiều nghiệp vụ khác nhau.TS Trần Huy Hoàng (2010, trang 7- 11), chúng ta có thể phân chia các hoạt động kinh doanh cơ bản của các ngân hàng thương mại bao gồm các nghiệp vụ được mô tả tóm tắt trong Hình 1. Các nghiệp vụ NHTM Nghiệp vụ tạo Nghiệp vụ sử Nghiệp vụ lập nguồn vốn dụng vốn trung gian - Vốn điều lệ và - Thiết lập dự các quỹ trữ - Vốn huy động - Hoạt động tín - Vốn đi vay dụng - Nguồn vốn - Hoạt động đầu khác tư tài chính - Hoạt động khác Hình 1.1: Khái quát hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM 6 Dưới đây là một số nghiệp vụ cơ bản trong hoạt động của ngân hàng thương mại: • Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn: là hoạt động hình thành nên các nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Bởi vậy, để đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng thương mại có thể sử dụng các nguồn vốn sau: - Vốn điều lệ và các quỹ: + Vốn điều lệ: Đây là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động.
Nguồn vốn này tuy chiếm tỷ trọng không lớn nhưng phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật. Vốn điều lệ có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, cụ thể nó là điều kiện cho phép các ngân hàng có thể xây dựng, mua sắm tài sản cố định, cơ sở vật chất ban đầu cho hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra, ngân hàng còn được phép sử dụng để góp vốn liên doanh, cấp vốn cho các công ty con và các hoạt động kinh doanh khác. + Các quỹ: Được hình thành khi ngân hàng đã đi vào hoạt động, bao gồm quỹ trích từ lãi ròng hằng năm của ngân hàng nhưquỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ.
- Vốn huy động: Đây là nguồn vốn chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của NHTM. Nguồn vốn huy động bao gồm: Tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng, các khoản tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, tiền gửi tiết kiệm của dân cư và thông qua thị trường tài chính, hiện nay các ngân hàng thương mại có thể huy động vốn bằng cách phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác với nhiều loại kỳ hạn, lãi suất khác nhau, có ghi danh hoặc không ghi danh nhằm đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và đáp ứng nhu cầu nắm giữ các tài sản khác nhau của khách hàng. - Nguồn vốn đi vay: Trường hợp trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình nếu các ngân hàng thương mại nhận thấy nhu cầu vay vốn của khách hàng gia tăng mạnh hoặc ngân quỹ bị thiếu hụt do có nhiều dòng tiền rút ra, thì các ngân hàng thương mại có thể vay nợ tại các ngân hàng khác như Ngân hàng Nhà nước 7 thông qua hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá, vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ, vay qua đêm, thấu chi; hoặc vay của các NHTM khác trên thị trường liên ngân hàng, hợp đồng mua lại; hoặc vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế nhằm bổ sung cho thiếu hụt tạm thời về vốn. - Nguồn vốn khác: Vốn tiếp nhận từ ngân sách Nhà nước để thực hiện các chương trình dự án theo kế hoạch tập trung của Nhà nước; vốn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính quốc tế để cho vay ủy thác.
• Nghiệp vụ sử dụng vốn: Thực hiện các hoạt động tín dụng và đầu tư đem lại nguồn thu cho ngân hàng và bù đắp các chi phí trong hoạt động. - Thiết lập dự trữ: Các NHTM không sử dụng toàn bộ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh mà phải dùng một phần nguồn vốn thích hợp cho dự trữ nhằm đáp ứng những yêu cầu dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thực hiện các lệnh rút tiền và thanh toán của khách hàng, chi trả các khoản tiền gửi đến hạn, chi trả lãi, đáp ứng nhu cầu vốn vay hợp lý của khách hàng. - Cấp tín dụng: Hiện nay vẫn là một trong những hoạt động cơ bản, truyền thống và đóng vai trò quan trọng nhất trong các hoạt động tạo ra thu nhập của ngân hàng thương mại. Bao gồm nghiệp vụ cho vay, chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán… - Đầu tư tài chính: NHTM thường sử dụng các nguồn vốn ổn định thực hiện các hình thức đầu tư tài để đa dạng hóa việc sử dụng nguồn vốn, chia sẻ rủi ro với nghiệp vụ tín dụng, tăng thu nhập và hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết, cụ thể các ngân hàng thương mại thực hiện các hoạt đầu tư như: hoạt động đầu tư gián tiếp (các hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán thông qua việc mua bán các chứng khoán do chính phủ, công ty phát hành), hoặc các hoạt động đầu tư trực tiếp (góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty tài chính.
- Sử dụng vốn cho các mục đích khác như mua sắm thiết bị, dụng cụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh, xây dựng trụ sở, mở rộng chi nhánh và các chi phí khác. • Nghiệp vụ trung gian: Đây là các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng sẽ nhận được các khoản hoa hồng và lệ phí. Cùng với sự phát triển kinh 8 tế, các hoạt động cung cấp dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa các hoạt động của ngân hàng, đồng thời cũng mang lại cho ngân hàng những khoản thu nhập không nhỏ. Các hoạt động dịch vụ này bao gồm các hoạt động như dịch vụ thanh toán và ngân quỹ; uỷ thác như quản lý di sản, quản lý theo hợp đồng đã ký kết, ủy thác giám hộ, dịch vụ đại diện và ủy thác quản lý ngân quỹ; dịch vụ bảo hiểm; dịch vụ thông tin tư vấn; dịch vụ giữ hộ, dịch vụ ngoại hối.
Ngoài ra, trước sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin, hiện nay các ngân hàng còn phát triển và cung cấp các dịch vụ mới như các dịch vụ thẻ, Internet Banking, Phonebanking. cũng như phát triển mạnh các dịch vụ ngân hàng quốc tế. Định nghĩa hiệu quả hoạt hoạt động. Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội.Mỗi một lĩnh vực khác nhau, xem xét trên các góc độ khác nhau thì người ta có những cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề hiệu quả.Xét trên bình diện các quan điểm kinh tế học khác nhau cũng có nhiều ý kiến khác nhau về hiểu như thế nào về hiệu quả kinh doanh.
- Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá"(Kinh tế thương mại dịch vụ - Nhà xuất bản thống kê 1998). Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể tăng lên do chi phí tăng hoặc mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả. Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế.