CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG. Chương một nghiên cứu tìm hiểu về một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài trong đó bố cục được chia ra làm ba phần, phần một sẽ giới thiệu về ngân hàng thương mại và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Phần hai sẽ giới thiệu về các yếu tố tác động đến ngân hàng, qua đó cho thấy mối quan hệ giữa các yếu tố đó với hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Phần ba, nghiên cứu đi tìm hiểu một vài nghiên cứu trước đây liên quan tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.1 Giới thiệu về ngân hàng thương mại.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại.
Đối với định nghĩa về ngân hàng thương mại thì hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung thì ngân hàng thương mại đầu tiên phải là một ngân hàng trung gian. Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và họat động trong ngành dịch vị tài chính. Ở Pháp: ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
Ở Ấn Độ: ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư. Ở Thổ Nhĩ Kì: ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn khác. Ở Việt Nam theo Luật ngân hàng Nhà Nước và Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 thì “ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh và dịch vụ với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi và sử dụng tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”. Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 5 năm 2010 thì là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động của ngân hàng và tất cả các hoạt động kinh doanh khác theo luật nhằm mục tiêu lợi nhuận.2 Vai trò và chức năng của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế và được nhiều người ví như là huyết mạch của nền kinh tế của một quốc gia. Theo quan điểm truyền thống thì ngân hàng thương mại có những vai trò căn bản sau: Một là, vai trò tập trung vốn của nền kinh tế. Để thực hiện vai trò này các ngân hàng thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua các công cụ như sản phẩm tiền gửi, trái phiếu, cổ phiếu,…Mặt khác, với số vốn nhàn rỗi này, ngân hàng sẽ cung ứng ra cho các nhu cầu của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh, tiêu dùng,…Như vậy, với vai trò này ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay với một mức lãi suất chênh lệch để duy trì hoạt động và thu lợi cho mình. Hai là, ngân hàng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán.
Trung gian thanh toán là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả theo lệnh của chủ tài khoản. Khi làm trung gian thanh toán thì ngân hàng tạo ra các công cụ thanh toán như sec, giấy chuyển khoản, thẻ thanh toán,… và độc quyền quản lý các công cụ đó. Ba là, chức năng tạo ra tiền ngân hàng thông qua hệ thống ngân hàng thương mại. Chính nhờ vai trò này, ngân hàng thương mại còn là công cụ để ngân hàng Nhà Nước thực hiện các chính sách tiền tệ.Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP 1.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP Theo McMahon (1995) cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh như là một chỉ số được tính toán dựa trên các số liệu kế toán.
Nó đánh giá hiệu quả quá trình tạo ra các giá trị tối đa cho các cổ đông. Theo quan điểm truyền thống hiệu quả kinh tế của một quá trình được định nghĩa như sau: “nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và 6 toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó”. Lợi nhuận liên quan chặt chẽ đến khả năng hoạt động của các ngân hàng để đạt được lợi ích. Nhiều nghiên cứu sử dụng biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) như một biện pháp được sử dụng để phản ánh lợi nhuận của một ngân hàng.
ROA đo lường lợi nhuận thu được từ mỗi đồng tiền của tài sản phản ánh như thế nào quản lý sử dụng nguồn thực sự của đầu tư cho một lợi nhuận (Ben Naceur-Goaied, 2005). Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần đo lường bằng tỷ suất sinh lợi. Theo các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng của các nghiên cứu trước trong nước và trên thế giới thì dựa trên hai lý thuyết cơ bản sau đây: một là lý thuyết quyền lực thị trường (MP – Market Power); hai là, lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Es – Efficient Structure). Lý thuyết quyền lực thị trường MP.
MP có hai hướng tiếp cận chính: Lý thuyết về cấu trúc – hành vi – hiệu quả (SCP) và lý thuyết quyền lực tương đối (RMP). Lý thuyết SCP cho rằng, cấu trúc của thị trường quyết định đến hành vi của công ty, và quyết định hành vi là kết quả của cấu trúc thị trường, chẳng hạn như hiệu quả hoạt động, tiến bộ và tăng trưởng. Theo Bain (1951) thì nhiều ngành tập trung quyền lực quá cao dẫn tới độc quyền, đã tạo ra những kết quả nghèo nàn, là nguyên nhân giảm sản lượng hình thành nên giá độc quyền. Dựa trên lý thuyết SCP thì thị trường ngành ngân hàng càng tập trung, càng độc quyền thì lãi suất cho vay càng cao, lãi suất huy động càng thấp, dẫn đến thiệt hại cho người vay, người gửi tiền và nền kinh tế.
Theo Al-Muharrami và Matthews (2009), các ông đã nghiên cứu hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng theo lý thuyết SCP thì có thể chia làm nhóm theo phương pháp đo lường hiệu quả được sử dụng. Nhóm đầu tiên đo lường giá cả một số sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cụ thể. Nhóm này có thể bị sai lệch tính đa dạng sản phẩm của ngân hàng. Nhóm thứ hai, sử dụng thước đo hiệu quả hoạt động như tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE).
Biện pháp này có 7 thể cung cấp nhiều thông tin hơn, nhưng cũng có thể giải thích khó khăn vì tính phức tạp của các thủ tục kế toán. Trong một số trường hợp đặc biệt, theo Berger (1995) thì lý thuyết MP là lý thuyết quyền lực thị trường tương đối, đối với lý thuyết này thì cho rằng những công ty có thị phần lớn và sản phẩm khác biệt có thể sử dụng quyền lực thị trường, độc quyền để kiếm lợi nhuận không cạnh tranh như ngân hàng lớn, thương mại cổ phần nhà nước với lợi thế thương hiệu, chất lượng sản phẩm, quyền lực nhà nước có thể tăng giá sản phẩm dịch vụ để thu lợi nhuận đáng kể. Lý thuyết ES Lý thuyết ES ngược lại với lý thuyết MP, lý thuyết ES cho rằng cấu trúc thị trường được xác định bởi hiệu xuất của công ty, nghĩa là hiệu suất công ty tạo nên cấu trúc thị trường. Theo Olweny và Shipho (2011) lợi nhuận ngân hàng càng cao thì chúng càng hoạt động hiệu quả.
Lý thuyết ES cũng được đề xuất với hai hướng tiếp cận, tùy theo từng loại hiệu xuất xem xét. Theo hướng tiếp cận hiệu quả X (X-Efficiency), theo Al-Muharrami và Matthews (2009), những công ty đạt được hiệu quả cao hơn thường thì có lợi nhuận cao, thị phần lớn bởi vì họ có khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất, chi phí quản lý. Hướng tiếp cận hiệu quả theo quy mô (Scale – Efficiency). Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và quy mô được giải thích dựa trên nguyên lý tính kinh tế theo quy mô.
Theo Olweny và Shipho (2011) cho rằng, ngân hàng càng lớn chi phí hoạt động càng thấp nhờ đó lợi nhuận thu được cao hơn. Ngoài hai lý thuyết MP và ES các nhà nghiên cứu còn dựa trên lý thuyết đầu tư cân bằng (Balanced Porfolio Theory) để nghiên cứu về hoạt động ngân hàng (Nzongang và Atemnkeng, 2006). Lý thuyết này còn được biết đến với cái tên là lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, lý thuyết cho rằng nhà đầu tư có thể giảm thiểu rủi ro thị trường thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư để đạt được lợi nhuận kỳ vọng. Hiệu quả tổng thể của việc đa dạng hóa này có thể giảm thiểu biến động của lợi nhuận kỳ vọng.
Theo Agu (1992) nói rằng việc tối ưu hóa danh mục đầu tư là một hàm các quyết định về chính sách được xác định bởi yếu tố như tỷ suất lợi 8 nhuận trên toàn bộ tài sản trong danh mục đầu tư, mức độ rủi ro đối với mỗi loại tài sản và kích cỡ của danh mục đầu tư cho nên, đa dạng hóa danh mục đầu tư là kết quả mong muốn của ban quản trị NHTMCP. Như vậy, có nhiều cách tiếp cận đo lường hiệu quả hoạt của NHTM như MP, ES, lý thuyết danh mục đầu tư. Các lý thuyết đều cho rằng hiệu quả hoạt động của ngân hàng chịu tác động của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài. Và trên thực tế đã có nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng các lý thuyết trên để đo lượng các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Tuy nhiên, không có một lý thuyết nào có thể liệt kê đầy đủ cả yếu tố bên trong và bên ngoài đó để giải thích cho sự thay đổi về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các yếu tố bên trong và bên ngoài để giải thích cho sự thay đổi về hiệu quả hoạt động của ngân hàng.