Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chương 2: Phát triển NNL tại các NHTM - Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế. Chương 3: Thực trạng phát triển NNL tại các NHTM Việt Nam. Chương 4: Định hư ng giải pháp tiếp tục phát triển NNL tại các NHTM Việt Nam.
Sau đây là nội dung chi tiết của từng chương. 7 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển NNL Phát triển NNL là vấn đề rất quan trọng được nhiều cá nhân và tổ chức nghiên cứu. Khái quát lại, các nghiên cứu liên quan đến phát triển NNL gồm các xu hư ng chủ yếu sau đây: Một là, phát triển nguồn nhân lực dựa trên quá trình giáo dục đào tạo và tự giáo dục đào tạo.
Nguồn nhân lực là sự tích lũy những tài năng trong quá trình học tập, nghiên cứu hoặc học việc thư ng đỏi hỏi chi phí, đó là tư bản cố định đã kết tinh trong con ngư i [1], được cung cấp các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp v i vốn hữu hình và các lao động không có kỹ năng để tạo ra sản phẩm, là kiến thức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế [146]. Lý thuyết về phát triển NNL được thiết lập dựa trên ứng dụng những học thuyết của các nguyên lý cơ bản như giáo dục, kinh tế học, thuyết quan hệ con ngư i, hành vi tổ chức [24], [29]. Một cách tổng quát được nhiều ngư i thừa nhận, phát triển NNL bao hàm ba yếu tố về tâm lý, kinh tế và hệ thống [80], [82]. Đối v i yếu tố tâm lý, giúp ngư i lao động nâng cao năng - hiệu suất làm việc, làm thay đổi và ảnh hưởng đến sự phát triển trong tổ chức thông qua học tập, đào tạo và phát triển, đối v i yếu tố kinh tế, được coi là cơ sở cho sự tồn tại của tổ chức, đối v i yếu tố hệ thống, là sự kết nối và các mối quan hệ để có thể tối đa hóa sự tích hợp của các hệ thống nhỏ hơn v i nhau [100].
Phát triển NNL không chỉ là việc nâng cao kĩ năng, năng lực của cá nhân mà còn liên quan đến lợi ích của tổ chức phát triển NNL, theo đó hai vấn đề chính của phát triển NNL bao gồm đào tạo và hiệu suất [67], [69], [120]. Đề xuất một giải thích m i về vai trò của nhà nư c trong việc hình thành kỹ năng, thay vì nhìn thấy nhà nư c là yếu tố bên ngoài chỉ đơn giản là khắc phục, nhóm tác giả giải thích nhà nư c phù hợp v i việc cung cấp và nhu cầu cho các kỹ năng trong một nền kinh tế phát triển 8 z nhanh chóng, vai trò này có thể là tốt hơn một chiến lược cho phép các tổ chức giáo dục và đào tạo được thúc đẩy bởi quá trình tự trị, các cơ chế chính trị giúp cho việc đảm bảo sự phát triển của giáo dục và hình thành các chính sách đào tạo tuân theo những mệnh lệnh của sự tăng trưởng kinh tế [42], [141]. Thực hiện hành động cụ thể sáu bư c nhằm phát triển NNL trong th i đại toàn cầu hoá v i nền kinh tế tri thức: (1) Tư duy lại các nguyên tắc, (2) Tư duy lại vấn đề cạnh tranh, (3) Tư duy lại sự kiểm soát và tính phức tạp, (4) Tư duy lại vai trò lãnh đạo, (5) Tư duy lại thị trư ng, (6) Tư duy lại thế gi i [140]. Khơi nguồn, phát triển NNL có tầm quan trọng đặc biệt, do đó để phát triển NNL, Trung Quốc cho rằng cần phải có lý luận và phương pháp đánh giá đúng đắn, đồng th i nêu lên một số vấn đề lý luận và phương pháp đánh giá NNL.
Hàn Quốc cho rằng khả năng cạnh tranh của NNL là kết quả cuối cùng trong phát triển NNL, phân tích các vấn đề giáo dục và đào tạo nghề kết hợp đào tạo v i nghiên cứu là yếu tố then chốt trong xây dựng xã hội học tập ở Hàn Quốc [55], [59], [99]. Hai là, coi khung năng lực là công cụ hữu hiệu để phát triển nguồn nhân lực. Khái niệm về Khung năng lực bắt nguồn từ định nghĩa về năng lực, là sự kết hợp đồng th i những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để hoàn thành tốt một vai trò hay một công việc được giao, năng lực thư ng được xem là khả năng thực hiện một nhiệm vụ nào đó một cách đầy đủ và có chất lượng, năng lực thể hiện bằng hành vi có thể quan sát, đo lư ng trong điều kiện làm việc, năng lực chỉ được xác định trong hành động và chỉ có thể nhận biết năng lực của một cá nhân qua công việc ngư i đó là và năng lực là một thuộc tính cá nhân, phụ thuộc vào bối cảnh [16], [17], [35]. Ngư i lao động không chỉ cần có kiến thức, kỹ năng cần thiết mà còn phải có động cơ, thái độ làm việc và có thể hoàn thành được công việc được giao, khung năng lực phản ánh toàn bộ năng lực mà một cá nhân cần có để đảm nhiệm một vị trí làm việc hay một công cụ nào đó, năng lực là đặc tính có thể đo lư ng được của kiến thức, 9 z kỹ năng, thái độ, các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ và là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so v i những ngư i khác [18], [20], [21].
Khung năng lực có thể do một tổ chức xây dựng, áp dụng cho toàn bộ tổ chức hoặc cho một vị trí làm việc và được trình bày theo hình thức bảng mô tả tổ hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ và đặc điểm một cá nhân cần để hoàn thành tốt công việc. có thể do một tổ chức xây dựng, áp dụng cho toàn bộ tổ chức hoặc cho một vị trí làm việc. Về mô hình xây dựng khung năng lực trong phát triển NNL, một số tác giả đã đề cập t i năng lực lãnh đạo, quản lý theo nghĩa riêng, bao gồm các kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết đối v i các cá nhân ở vị trí lãnh đạo, quản lý trong tổ chức, đã đề cập t i vấn đề trong khi nhiều năng lực lãnh đạo, quản lý là giống nhau giữa các lĩnh vực khác nhau thì yêu cầu năng lực đối v i ngư i lãnh đạo vẫn khá đối v i ngư i quản lý, kể cả trong cùng một lĩnh vực và đề xuất rằng các năng lực phải gắn v i một vị trí hay nhiệm vụ cụ thể, do đó việc xây dựng khung năng lực phải gắn v i vị trí, nhiệm vụ cụ thể [31], [44], [45]. Ba là, coi lợi ích và niềm tin của người lao động là động lực quan trọng để phát triển nguồn nhân lực.
Một trong những nội dung quan trọng trong trong phát triển NNL trong doanh nghiệp là việc tạo động lực cho ngư i lao động, yếu tố niềm tin, phương tiện bên trong (cơ hội thăng tiến, sự công nhận), lượng giá trị bên trong/ bên ngoài đều có ảnh hưởng tích cực đến quá trình làm việc của nhân viên. Các tổ chức có thể sử dụng đánh giá nhân lực v i nhiều mục đích khác nhau, đánh giá nhân lực trong khu vực công có thể được sử dụng như một phương tiện hữu ích để thúc đẩy trách nhiệm giải trình của các tổ chức. Hệ thống đánh giá nhân lực là một công cụ quản lý để tăng chất lượng và hiệu quả trong phát triển NNL, Hàn Quốc và Nhật Bản cũng đã nghiên cứu và áp dụng kỹ thuật đánh giá nhân lực m i trong một số khía cạnh nhất định để tăng hiệu quả của tổ chức và tăng lợi ích cho ngư i lao động. Ngoài ra, VHDN là một bộ phận trong phát triển NNL, VHDN bao gồm cả các yếu tố hữu hình và vô hình nên cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng đều có ưu nhược điểm của nó.
10 z Các phương pháp định tính sẽ giúp nghiên cứu được các yếu tố cấu thành của VHDN tốt hơn, sử dụng các phương pháp định lượng trong th i gian dài sẽ giúp tìm hiểu rõ các yếu tố của VHDN [17]. Chỉ có phỏng vấn sâu và quan sát, hay thảo luận nhóm m i giúp nghiên cứu được tầng sâu nhất của VHDN [141]. Khi sử dụng bảng hỏi, các đối tượng sẽ không bị áp lực và trả l i dễ dàng hơn là khi được phỏng vấn và quan sát [25], [27], [120]. Sử dụng kết hợp các phương pháp định tính và định lượng để có được đánh giá, nghiên cứu chính xác và đầy đủ hơn về VHDN bởi có thể tận dụng được ưu điểm và hạn chế nhược điểm của cả 2 loại phương pháp để thu thập được thông tin về cả các giá trị hữu hình và vô hình của VHDN [183].
Bốn là, các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực và kinh tế tri thức. Tại Việt Nam, một số giải pháp đã được các tác giả xây dựng nhằm phát triển NNL hư ng t i nền kinh tế tri thức gồm: Đầu tư vào giáo dục và khoa học công nghệ nhằm phát triển nguồn vốn con ngư i và tạo ra tri thức; Đầu tư vào hạ tầng thông tin để tạo công cụ, phương tiện cho việc thu nhận tri thức; Tăng cư ng đổi m i chính sách, thiết chế nhằm đẩy nhanh hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu [14], [32], [37], [39], [40], [178]. Nâng cao chất lượng NNL là nâng cao năng lực thể chất và năng lực tinh thần sáng tạo, tìm kiếm, phát hiện thông tin và vật chất hoá thông tin thành sản phẩm và công nghệ m i [13], [23], [34]. Phát triển NNL tiếp cận được kinh tế tri thức phải đồng th i tiến hành việc tạo dựng cơ sở hạ tầng ban đầu cho kinh tế tri thức và nâng cao chất lượng NNL [57], [78], [79], [178].
Điều kiện để tạo được lợi thế cạnh tranh trong th i đại ngày nay là đầu tư phát triển NNL có chất lượng cao đi đôi v i cấu trúc lại nền kinh tế, để có được như vậy vấn đề cơ bản là phải đầu tư vào nguồn tài nguyên con ngư i, đào tạo NNL có năng lực trí tuệ và tay nghề cao, có khả năng tiếp nhận và sáng tạo tri thức và công nghệ m i [77], [94] [96], [107].