chương 1 và cơ sở lý thuyết, các giả thuyết nghiên cứu đã nghiên cứu trong chương 2, chương 3 này sẽ trình bày việc xây dựng mô hình nghiên cứu, cách thức thiết lập và tính toán các yếu tố trong mô hình nghiên cứu, mô tả dữ liệu, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và các phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương này, tác giả tiến hành đánh giá về mối tương quan giữa các biến và kiểm định mô hình nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tác giả sẽ đưa ra những kết luận chính, từ đó đề xuất một số khuyến nghị cũng như nêu lên những hạn chế của đề tài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. z 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
Tổng quan về rủi ro tín dụng ngân hàng 2. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi.
Khái niệm về rủi ro tín dụng ngân hàng Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro lâu đời và lớn nhất trong thị trường tài chính, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng vì các khoản tín dụng thường chiếm quá nữa giá trị tổng tài sản. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất. Chính vì vậy mà khái niệm rủi ro tín dụng được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra nhiều ý kiến khác nhau. Như: Joel Bessic (2011) cho rằng rủi ro tín dụng là những tổn thất do khách hàng vay không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của khoản vay.
Theo Greuning và Bratanovic (2003) thì rủi ro tín dụng là rủi ro mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc vốn gốc theo đúng thời hạn đã ký kết trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay chậm trễ chi trả nợ vay, thậm chí không hoàn trả được một phần hoặc toàn bộ khoản nợ vay. z 7 Tại Việt Nam, theo quyết định số 493/2005/TT-NHNN thì rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Thông tư 02/2013/TT-NHNN ra đời thay thế cho quyết định 493/2005/TT- NHNN, đưa ra phạm vi xét rủi ro tín dụng bao quát hơn với định nghĩa: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng còn được xem xét trên cơ sở danh mục tín dụng của ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng 2. Phân loại theo nguồn gốc hình thành rủi ro Rủi ro giao dịch: Nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay và đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm: Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
- Rủi ro lựa chọn là loại rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng sử dụng những phương án vay vốn có hiệu quả để quyết định cho vay. - Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như điều khoản trong các hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo. - Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạn rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. z 8 Rủi ro danh mục: Nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng.
Rủi ro danh mục được phân chia thành: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại: Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng mang tính chất riêng biệt trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Đây là loại rủi ro xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng đi vay. - Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, một lĩnh vực kinh tế; trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Phân loại theo tính chất rủi ro tín dụng Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan gây ra như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hỏa hoạn, người vay chết hay mất tích,. dẫn đến thất thoát vốn vay mặc dù ngân hàng cho vay và người đi vay đã thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý và sử dụng vốn vay. Rủi ro chủ quan là rủi ro phát sinh do lỗi của bên đi vay hoặc của bên cho vay cố tình gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay. Rủi ro chủ quan có thể khắc phục và hạn chế bằng những biện pháp hợp lý.
Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng ngân hàng 2. Nguyên nhân khách quan - Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế xã hội của một nước biến động do chịu ảnh hưởng của những biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, mà trong đó hoạt động kinh doanh tiền tệ chứa nhiều nguy cơ rủi ro lớn nhất. z 9 - Môi trường pháp lý: Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lành mạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ gặp nhiều thuận lợi. Nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở rất dễ bị lợi dụng gây tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản,.
Chính sách Nhà nước thường xuyên thay đổi doanh nghiệp sẽ không lường trước được khả năng rủi ro xảy ra, ngân hàng cũng gặp rủi ro trong thu hồi công nợ. - Môi trường tự nhiên: Thiệt hại do thiên tai như bão lụt, động đất, lốc xoáy,.rất khó lường trước và có thể gây hậu quả nghiêm trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng khi đầu tư phát triển các thành phần kinh tế. Ở Việt Nam do thời tiết diễn biến phức tạp, những biến động lớn về thời tiết gây ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Khi có thiên tai xảy ra, ngân hàng cho vay sẽ gặp tổn thất lớn, phương án, dự án kinh doanh không có nguồn thu.
Ngân hàng phải cùng chia sẻ rủi ro với khách hàng của mình. Bên cạnh đó còn có các nguyên nhân khác như: hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh,.là những rủi ro mà khách hàng và ngân hàng đều không lường trước được đối với khoản tín dụng của mình. Nguyên nhân chủ quan - Nguyên nhân do phía ngân hàng Chính sách quy trình cho vay lỏng lẻo, quy trình quản trị rủi ro kém hiệu quả, chưa chú trọng đến việc phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán đến điều kiện cho vay và khả năng trả nợ. Nhân viên ngân hàng thiếu đạo đức, trình độ chuyên môn kém: đạo đức của nhân viên ngân hàng là một trong những yếu tố quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng.
Thiếu sự giám sát và quản lý sau khi vay: các ngân hàng thường z 10 tập trung nhiều trong việc thẩm định trước khi cho vay mà nới lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay là rất quan trọng, nhằm bảo đảm sự tuân thủ các điều khoản đặt ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng, đồng thời tìm ra các cơ hội kinh doanh mới. Thiếu thông tin: Chất lượng của thông tin có tác động trực tiếp đến tính chính xác của những quyết định tín dụng được đưa ra. Cơ sở dữ liệu quá ít trong và ngoài ngân hàng về khách hàng sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm, tín dụng được cấp cho những khách hàng có khả năng trả nợ kém, quá trình phát hiện rủi ro của ngân hàng chậm.
Bên cạnh đó việc thiếu cập nhật, thiếu trao đổi thông tin giữa các ngân hàng dẫn đến tình trạng nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng. Khi rủi ro xảy ra, tổn thất có thể đến với bất kỳ ngân hàng nào. - Nguyên nhân do phía khách hàng Tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: nhiều khách hàng hoạt động quy mô vốn nhỏ, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao, số liệu kế toán ghi chép không chính xác và đầy đủ khiến độ rủi ro gia tăng trong quá trình phân tích tín dụng của ngân hàng. Nhiều ngân hàng đã xem tài sản thế chấp như chỗ dựa cơ bản để phòng chống rủi ro tín dụng, nhưng đây là một sai lầm cơ bản.
Sử dụng vốn sai mục đích: khách hàng cố ý sử dụng vốn vay từ ngân hàng sai mục đích, không nằm trong phương án mà ngân hàng đã xét duyệt vì vậy mà không đảm bảo được việc hoàn trả nợ cho ngân hàng. Thiếu thiện chí trong việc trả nợ: đây là nguyên nhân liên quan đến đạo đức của người đi vay. Khách hàng có chủ ý chiếm dụng vốn ngân hàng sẽ rất tinh vi trong việc che đậy dấu hiệu lừa đảo, việc thẩm định của nhân viên tín dụng sẽ rất khó khăn.