Chương 1: “Tổng quan về NHTM và cam kết của Việt Nam về tự do hóa thị trường NH theo Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ” trình bày những quan điểm lý luận về hiệu quả kinh doanh của NHTM, đánh giá vị trí của các NHTMCP trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, các cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường ngân hàng trong nước trong HĐTM Việt Nam – Hoa Kỳ. Chương 2: “Tác động của HĐTM Việt Nam-Hoa Kỳ và Thực trạng hoạt động của các NHTMCP trên đĩa bàn TP Hồ Chí Minh” nghiên cứu, dự báo những tác động của việc thực thi các cam kết trong HĐTM đến hiệu quả kinh doanh, mà cụ thể là lợi nhuận, của các NHTMCP trong nước nói chung, đồng thời trình bày các kết quả nghiên cứu của tác giả về thực trạng hoạt động của các NHTMCP trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, phân tích sự liên hệ giữa lợi nhuận NH và các nhân tố khác cũng như xem xét những mặt mạnh, yếu cơ hội và nguy cơ của các NHTMCP trên địa bàn trong tiến trình thực hiện tự do hóa thị trường ngân hàng Chương 3 : “Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Tp Hồ Chí Minh trong tiến trình mở cửa thị trường NH”. Trên cơ sử những phân tích đã trình bày ở Chương 2, Chương 3 tác giả đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao lợi nhuận của các NHTMCP trong bối cảnh mở cửa thị trường dịch vụ NH theo Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI và CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỀ TỰ DO HOÁ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THEO HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – HOA KỲ 1.1 Vai trò và hoạt động của Ngân Hàng Thương Mại 1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngày nay, do sự phức tạp trong nghiệp vụ, sự khác biệt về tập quán, chính sách và điều kiện phát triển của mỗi quốc gia nên việc định nghĩa thế nào là một NHTM giữa các quốc gia thường không có sự đồng nhất với nhau.
Tại Pháp, NHTM được xem là doanh nghiệp mà nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền từ công chúng dưới hình thức nhận ký thác hoặc hình thức khác và sử dụng chúng cho các nghiệp vụ về tín dụng, chiết khấu và tài chính. Tại Hoa Kỳ, NHTM là công ty kinh doanh cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Tại Việt Nam, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng được quốc hội ban hành tháng 06 năm 2004 đã định nghĩa Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan, hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gởi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Tuy các quan niệm về Ngân hàng khác nhau giữa các nước nhưng nhìn chung, NHTM có thể được hiểu là loại hình định chế tài chính trung gian trực tiếp giao dịch với khách hàng với ba hình thức kinh doanh cơ bản là nhận tiền gởi, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ ngân hàng.
Trong đó, việc nhận tiền gởi không kỳ hạn, tiền gởi thanh toán là một đặc thù để phân biệt NH với các định chế tài chính trung gian khác như Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính … Ngân hàng thương mại cổ phần NHTMCP là NHTM được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần, có vốn do các cổ đông đóng góp dưới hình thức cổ phiếu. Trách nhiệm của cổ đông đối với hoạt 10 động của NHTMCP được giới hạn trong số cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ. Luật các TCTD năm 1997 của Việt Nam quy định NHTMCP phải có vốn góp của nhà nước, doanh nghiệp nhà nước và tên gọi đầy đủ là Ngân hàng NHTMCP nhà nước và nhân dân. Tuy nhiên, theo Luật sửa đổi bổ sung Luật các TCTD do Quốc hội thông qua ngày15/06/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/10/2004 thì các NHTMCP hiện nay không yêu cầu phải có phần vốn góp của nhà nước hoặc của doanh nghiệp nhà nước.
Hoạt động của NHTMCP được đánh giá có một số ưu điểm so với hình thức ngân hàng khác như khả năng tăng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, Ngân hàng được quản lý thông qua Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị là những người chủ sở hữu nên đảm bảo phần nào quyền lợi của người góp vốn cũng như trách nhiệm của họ đối với hoạt động của NH.2 Chức năng của NHTM NHTM có ba chức năng cơ bản như sau: Chức năng của một tổ chức tài chính trung gian: NHTM là nơi giúp cho người thừa vốn và người đang thiếu vốn gặp nhau thông qua hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên, NHTM không thực hiện chức năng này như một công ty môi giới mà tự mình đứng ra kinh doanh. Vai trò thủ quỹ giữ tiền và thanh toán: NHTM cung cấp tài khoản giao dịch và tạo cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt cho nền kinh tế. Chức năng này của NHTM vừa giúp giảm tổn phí giao dịch thanh toán của xã hội vừa đảm bảo được sự an toàn, chính xác và nhanh chóng trong thanh toán.
Chức năng tạo tiền: NHTM tạo thêm tiền trong lưu thông trong hoạt động huy động, tín dụng và thanh toán không dùng tiền mặt trong hệ thống ngân hàng. Theo Paul A Samualson và William D. Nordhalls, tổng số tiền mở rộng thêm trong hệ thống ngân hàng sẽ bằng tích giữa số tiền mới đưa vào hệ thống ngân hàng với số nhân tiền gởi. Số nhân tiền gởi bằng nghịch đảo của tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ương đối với các NHTM.
Tóm lại ta có công thức: Td = d / r Trong đó: Td tổng số tiền mở rộng thêm trong hệ thống ngân hàng d Số tiền gởi mới đưa vào hệ thống ngân hàng r tỷ lệ dự trữ bắt buộc 11 1.3 Nghiệp vụ của NHTM NHTM thực hiện rất nhiều nghiệp vụ trong quá trình hoạt động và số lượng các nghiệp vụ này ngày càng tăng cùng với sự phát triển của NH. Một cách tổng quát, các nghiệp vụ được xếp vào ba nhóm là nghiệp vụ tài sản có, nghiệp vụ tài sản nợ và nghiệp vụ dịch vụ - ngoại bảng (Hình 1.1 Nghiệp vụ tài sản nợ Nghiệp vụ tài sản nợ là các nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn hoạt động, nó tác động làm thay đổi bên nợ của bảng cân đối tài sản NH. Hiện nay, tài sản nợ của các NHTM tập trung vào năm nhóm phổ biến là vốn tự có (vốn chủ sở hữu), tiền gởi không kỳ hạn, tiền gởi có kỳ hạn, các khoản vay trên thị trường tiền tệ và cuối cùng là các khoản vay trên thị trường liên ngân hàng và NHNNc. Nghiệp vụ tài sản nợ đóng vai trò giải quyết đầu vào của NH và hoạt động nghiệp vụ tài sản nợ thường làm phát sinh các khoản chi phí vốn đối với NH.2 Nghiệp vụ tài sản có Nghiệp vụ tài sản có là nghiệp vụ sử dụng các nguồn vốn của ngân hàng, nó tác động làm thay đổi bên có của bảng cân đối tài sản NH.
Nghiệp vụ tài sản có của NHTM thường bao gồm các nghiệp vụ liên quan đến dự trữ tiền (bao gồm tiền tại kho ngân hàng và tiền trên tài khoản vãng lai của ngân hàng tại NHNNc); cho vay (bao gồm cho vay khách hàng và cho vay trên thị trường liên ngân hàng); đầu tư chứng khoán và đầu tư vào tài sản khác (cơ sở hạ tầng, trang thiết bị…). Hoạt động nghiệp vụ tài sản có đóng vai trò giải quyết đầu ra đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy, nghiệp vụ tài sản có của ngân hàng có luôn luôn gắn chặt với các nghiệp vụ tài sản nợ, nơi giải quyết đầu vào cho NH và sự gắn kết này đảm bảo NH hoạt động một cách trôi chảy, an toàn và hiệu quả.3 Nghiệp vụ ngoại bảng Nghiệp vụ ngoại bảng là các nghiệp vụ mà khi thực hiện chúng không làm thay đổi tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng. Thực chất các nghiệp vụ ngoại bảng là hoạt động cung cấp dịch vụ thuần tuý của NH như cất giữ tài sản, thu chi hộ, bảo lãnh, tư vấn đầu tư, phát hành tín dụng thư, chuyển tiền ….
Các nghiệp vụ ngoại bảng mang 12 lại nhiều tiện ích gia tăng cho khách hàng trong khi chi phí vốn của ngân hàng hầu như bằng không. Chính vì đặc thù này mà ngày nay các NH trên thế giới thường rất chú tâm đến khai thác các nghiệp vụ này nhằm gia tăng lợi nhuận.2 Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại 1.1 Cơ sở đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM NHTM nói chung và loại hình NHTMCP nói riêng sử dụng vốn chủ sở hữu và các nguồn huy động để cho vay và cung cấp các dịch vụ có thu phí khác với hy vọng các khoản thu được sẽ nhiều hơn chi phí nhằm thu lợi nhuận cho các bên đã bỏ vốn vào NH. Do đó, về mặt lý thuyết, giá trị cổ phiếu của Ngân hàng trên thị trường chứng khoán sẽ là thước đo tốt nhất phản ánh tình hình và hiệu quả kinh doanh kinh doanh của NH vì giá cổ phiếu phản ánh sự đánh giá của thị trường đối với hoạt động ngân hàng đó. Nếu giá cổ phiếu được giao dịch tự do trên thị trường chứng khoán cao hơn mệnh giá cổ phiếu của NH chứng tỏ thị trường và nhà đầu tư đã đánh giá cao hiệu quả kinh doanh của NH nói chung và khả năng sinh lợi của NH nói riêng và ngược lại.
Tuy nhiên, chỉ số giá trị thị trường của cổ phiếu ngân hàng không phải lúc nào cũng có sẵn và đáng tin cậy nhất là khi thị trường chứng khoán còn chưa phát triển, các cổ phiếu ngân hàng còn chưa được giao dịch tự do chính thức trên thị trường như ở Việt Nam. Do đó, để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các NHTM, các nhà phân tích phải sử dụng các chỉ số về lợi nhuận để thay thế chỉ số giá thị trường của cố phiếu NH.