Phần mở đầu Chƣơng 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chƣơng này sẽ giới thiệu về các nghiên cứu liên quan trƣớc đây của ở trong nƣớc và trên thế giới. Từ đó đánh giá chung về kết quả đạt đƣợc của các nghiên cứu đó và định hƣớng nghiên cứu cho khóa luận. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về công bố thông tin và tầm quan trọng của minh bạch trong công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết.
Trang 7/70 Chƣơng này, khóa luận sẽ làm rõ các vấn đề chung về công bố thông tin và minh bạch trong công bố thông tin, đồng thời xây dựng khung lý thuyết và xác định các nhân tố tác động đến sự minh bạch trong việc CBTT. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Ở chƣơng này tác giả sẽ nói rõ về các phƣơng pháp để nghiên cứu và tiến hành xây dựng quy trình nghiên cứu cũng nhƣ thiết lập mô hình nghiên cứu để tiến hành nghiên cứu sâu. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Sau khi hoàn thành chƣơng 3, tác giả sẽ trình bày kết quả của nghiên cứu, đồng thời diễn giải và thảo luận về kết quả nghiên cứu của khóa luận. Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị giải pháp Đây là chƣơng cuối cùng của nghiên cứu, ở chƣơng này tác sẽ đƣa ra những kết luận chung sau khi đã trình bày kết quả nghiên cứu.
Từ đó tiến hành kiến nghị giải pháp cho nghiên cứu và hoàn thiện đề tài. Trang 8/70 CHƢƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CÁC NGHIÊN CỨU NƢỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CBTT VÀ MINH BẠCH TRONG CBTT: Về các nghiên cứu trên thế giới trước đây có liên quan đến việc CBTT và ảnh hưởng của nó đến quyết định đầu tư trên TTCK: Tiến hành lƣợc khảo công trình nghiên cứu liên quan đến CBTT trƣớc đây: Carolyn Streuly (1994) với nghiên cứu thể hiện CBTT và ảnh hƣởng của nó đến quyết định đầu tƣ trên TTCK. Bên cạnh đó, các nghiên cứu liên quan đến quan hệ giữa thông tin trên BCTC và các chỉ số tài chính lên giá cổ phiếu của các CTNY nhƣ nghiên cứu của Dimitropoulos và cộng sự (2007) về mối quan hệ giữa thông tin trên BCTC lên giá cổ phiếu đƣợc tác giả nghiên cứu ở TTCK Hy Lạp.
Về các nghiên liên quan đến mức độ minh bạch và các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch trong CBTT: Nghiên cứu xuyên quốc gia của Meek & cộng sự (1995) về các nhân tố ảnh hƣởng đến việc CBTT tự nguyện hay Zarzeski (1996) cho rằng mức độ CBTT phụ thuộc vào văn hóa và sức mạnh của thị trƣờng. Năm 2002, tác giả Almazan và cộng sự đã nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin với cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Assaf & Efraim (2004) đã phân tích mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và sự phát triển của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Nhóm tác giả Bartley và cộng sự (2007) đƣa ra giả thuyết là phí kiểm toán càng cao thì rủi ro gian lận BCTC càng lớn và kết quả nghiên cứu thực nghiệm cũng chứng tỏ giả thuyết này của tác giả là đúng.
ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐÃ THỰC HIỆN Ở NƢỚC NGOÀI VỀ CBTT VÀ MINH BẠCH CBTT: Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy đƣợc cái nhìn tổng quan về vai trò cũng nhƣ sự ảnh hƣởng của việc CBTT lên TTCK ở từng nƣớc sở tại và dƣới đây là một vài đánh giá mang tính khách quan về các nghiên cứu trên thế giới: (1) So với các nghiên cứu sơ khai thì các nghiên cứu về sau đã xem xét các nhân tố ảnh hƣởng đến tính minh bạch và mức độ CBTT của doanh nghiệp với cách nhìn có tính hệ thống và toàn diện hơn. (2) Nếu các nghiên cứu trƣớc thƣờng xem xét tính minh bạch ở cấp độ quốc gia, mang tính vĩ mô thì ở các nghiên cứu sau ngày càng tập trung nhiều ở góc độ công ty. (3) Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng là phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng chủ yếu trong các nghiên cứu đã thực hiện. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CBTT VÀ TÍNH MINH BẠCH TRONG CBTT: Tại Việt Nam có các nghiên cứu liên quan đến tính minh bạch trong CBTT của doanh nghiệp.
Năm 2012, liên quan đến các bài viết về tầm quan trọng của minh bạch thông tin có kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hằng Nga. Tác giả Lê Việt Giang (2014), đã chỉ ra các nguyên tắc công khai và minh bạch trên TTCK Việt Nam. Trong năm 2011, nhằm xem xét vai trò của thông tin kế toán trong đầu tƣ chứng khoán có nghiên cứu trong luận án Tiến sĩ của Dƣơng Minh Châu, thực nghiệm ở TTCK Anh Quốc. Nguyễn Thị Hà (2006) đã phân tích nguyên tắc “công khai và minh bạch” theo yêu cầu của OECD.
Nguyễn Phúc Sinh (2008), nghiên cứu đề cập đến vai trò của thông tin tài chính, tính hữu ích của báo cáo tài chính về “Nâng cao tính hữu ích trong báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”, tác giả đề cập đến vai trò của báo cáo Trang 10/70 tài chính cũng nhƣ tính hữu ích của nó trong hoạt động của doanh nghiệp. Tác giả dựa trên nền tảng lý thuyết và thực tiễn kế toán của quốc tế và Việt Nam đề phân tích, đánh giá thực trạng cung cấp thông tin hữu ích của báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm chuẩn hóa báo cáo tài chính và nâng cao tính hữu ích của báo cáo tài chính. Một nghiên cứu khác của Tạ Thanh Bình (2011) về “Hoàn thiện hệ thống công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam”. Đề tài này đã cho thấy các thông tin phải công bố của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán và đƣa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống công bố thông tin của các CTNY.
Nhóm tác giá Lê Trƣờng Vinh và Hoàng Trọng (2008) có nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhân của nhà đầu tƣ” đã xây dựng mô hình sử dụng 5 biến nguyên nhân ảnh hƣởng đến tính minh bạch thông tin gồm: Quy mô, lợi nhuận, nợ phải trả, tài sản cố định, vòng quay tổng tài sản để kiểm định các nhân tố ảnh hƣởng đến ính minh bạch thông tin và kết luận rằng chỉ có biến kết quả tài chính đại diện là chỉ tiêu lợi nhuận ảnh hƣởng đến tính minh bạch thông tin. Tuy nhiên, quá trình tiếp cận để đƣa ra mô hình của tác giả vẫn chƣa đƣợc toàn diễn và cỡ mấu khảo sát chƣa đủ rộng. Tác giả Lâm Thị Hồng Hoa với bài viết “Minh bạch thông tin – Yêu cầu thực tiển và mức độ đáp ứng” đã đƣa ra 7 nguyên nhân chính dẫn đến sự thiếu minh bạch về thông tin nhƣ việc “tốt đẹp khoe ra, xấu xa thì đậy lại”, quan niệm giữ bí mật trong kinh doanh bị lạm dụng, năng lực quản trị còn yếu kém, tâm lý ngại thay đổi, xây dựng các chính sách mang tầm vĩ và vi mô đã tạo điều kiện cho việc che dấu hoặc làm sai lệch thông tin, chƣa có hệ thống chỉ tiêu để ngƣời sử dụng thông tin kiểm chứng thông tin đó đã minh bạch hay chƣa và cuối cùng là hoạt động kiểm toán chƣa thực sự góp phần làm cho thông tin đƣợc minh bạch. Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự thiếu minh bạch tác giả đã đề ra một số kiến nghị.
Trang 11/70 Nguyễn Thúy Anh (2012) nghiên cứu với đề tài “Minh bạch hóa thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập Quốc tế” cũng đã đề cập đến sự minh bạch thông tin trên thị trƣờng chứng khoán. Tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính để lý giải và minh chứng cho các kết luận của mình cũng nhƣ sử dụng một vài trƣờng hợp điển hình để phân tích sự yếu kém trong mức độ minh bạch thông tin, nhƣ vậy là chƣa toàn diện và đầy đủ để tạo nên tính thuyết phục cho nghiên cứu. Nghiên cứu về hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin của Nguyễn Đình Hùng (2010) đề cập đến “Hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam”. Tác giả đã xác định mối quan hệ và cơ chế hoạt động của hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính bao gồm 6 thành phần: Hệ thống chuẩn mực kế toán, quy đinh liên quan đến công bố báo cáo tài chính, kiểm soát nội bộ, ban giám đốc, ban kiểm soát và kiểm toán độc lập.
Tuy nhiên thì tác giả chỉ mới dừng lại ở việc thống kê mô tả của các biến đại diện mà chƣa thể hiện mối quan hệ giữa các nhân tố trong nghiên cứu và chƣa xác định đƣợc mức độ ảnh hƣởng của các biến đó đến sự minh bạch thông tin. Các nghiên cứu về minh bạch công bố thông tin có nghiên cứu của tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) cho thấy các nhân tố phản ánh đặc điểm tài chính nhƣ: đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, công ty kiểm toán có ảnh hƣởng đến tính minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết. Đối với nhân tố liên quan đến đặc điểm quản trị thì biến cơ cấu HĐQT (đƣợc đo bằng tỷ lệ các giám đốc điều hành không tham gia vào HĐQT) có ảnh hƣởng đến mức độ minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐÃ THỰC HIỆN TRONG NƢỚC VỀ CBTT VÀ MINH BẠCH CBTT: Mặc dù TTCK Việt Nam ra đời trễ hơn so với các TTCK khác trong và ngoài khu vực nhƣng nhìn chung, những nghiên cứu tại TTCK Việt Nam vẫn cung cấp cho nhà đầu tƣ cũng nhƣ ngƣời đọc có đƣợc cái nhìn tổng quan về tính ứng dụng Trang 12/70 trong quá trình đầu tƣ và kiểm soát rủi ro.
Và dƣới đây là một vài đánh giá về các nghiên cứu liên quan trong nƣớc: (1) Các nghiên cứu đã đƣa ra đƣợc bức tranh tổng quát về tình hình CBTT và TTTC của các CTNY. (2) Đƣa ra đƣợc các đánh giá về mức độ và tính minh bạch trong CBTT và TTTC hiện nay của các CTNY. (3) Đề ra một số giải pháp cho sự phát triển trong hệ thống CBTT của các CTNY. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều còn tồn tại một số hạn chế nhƣ: (1) Các nghiên cứu còn chƣa đi sâu vào minh bạch thông tin mà chủ yếu nghiên cứu về thông tin một cách riêng lẻ.
(2) Cỡ mẫu của hầu hết nghiên cứu chƣa rộng và chƣa đầy đủ.