Chương 1, cụ thể: nước về công bố TTBPKD của doanh nghiệp niêm yết nhằm mục đích lam cho TTBPKD - Mục tiêu: tìm hiểu các nhân tố ảnh hướng tới công bố TTBPKD trên BCTC và thật sự có ích trong việc ra quyết định của người sử dụng. đánh giá thực trạng công bố TTBPKD trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TICK Viét Nam. - Câu hỏi nghiên cứu: luận án đưa ra ba câu hỏi nghiên cứu cụ thể. - Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ công cố TTBPKD trên BCTC các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu là thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ công bố TTBPKD trên BCTC, cụ thể là thuyết minh BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam. - Kết cấu luận án: luận án bao gồm 5 chương trình bày lần lượt các nội dung để giải quyết mục tiêu đã đề ra. 10 11 CHƯƠNG 2 ra ly do vì họ chỉ thuần tuý kinh doanh một lĩnh vực và chỉ hoạt động trong lãnh thổ TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU, LÝ LUẬN CHUNG VÀ CƠ SỞ Việt Nam. Như vậy, nghiên cứu cho thấy việc lập BCBP trong các doanh nghiệp hiện LY THUYET VE CONG BO THONG TIN BO PHAN KINH DOANH nay không tuân thủ theo đúng quy định.
Nhìn chung các doanh nghiệp lập BCBP theo CUA CAC DOANH NGHIEP lĩnh vực kinh doanh nhiều hơn BCBP theo khu vực địa lý giống như kết quả nghiên cứu của KPMG (2010). Theo nghiên cứu của KPMG (2010) về việc áp dụng IFRS8 2. Tông quan nghiên cứu về công bố thông tin bộ phận kinh doanh của các của các công ty thuộc danh sách Fortune Global 500 năm 2009 cho thấy có 66% các doanh nghiệp công ty lập BCBP theo lĩnh vực kinh doanh, 11% các công ty lập BCBP theo khu vực Thông tin kế toán công bố là toàn bộ các thông tin được bộ phận kế toán của địa lý và 23% lập BCBP theo kiểu hỗn hợp. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Phạm Thị doanh nghiệp cung cấp cho các đối tượng sử dụng (thường là bên ngoài doanh nghiệp), Thuỷ (2013) cũng đề cập đến tiêu chí đo lường kết quả kinh doanh bộ phận, phần lớn thường là mọi thông tin về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp các doanh nghiệp trình bày Lợi nhuận hoạt động kinh doanh và ít doanh nghiệp trình thông qua hệ thống BCTC.
TTBPKD của các doanh nghiệp thường được trình bày trong bày theo Lợi nhuận gộp và Lợi nhuận sau thuế, cụ thể là 77,8% các công ty sử dụng Thuyết minh BCTC. Công bố TTBPKD là một phần trong công bố thông tin kế toán. Loi nhuận hoạt động kinh doanh, 1 1,1% công ty sử dụng Lợi nhuận gộp và 11,1% các Cùng với sự phát triển của thị trường, cũng như sự phát triển của khoa học kế toán, các công ty sử dụng Lợi nhuận sau thuế. Trong khi đó, nghiên cứu KPMG (2010) điều tra các doanh nghiệp thuộc danh sách Fortune Global 500 năm 2009 cũng chỉ ra doanh nghiên cứu về công bố TTBPKD trên BCTC của các doanh nghiệp ngày càng thu hút nghiệp trình bày nhiều nhất chỉ tiêu Lợi nhuận hoạt động kinh doanh và ngoài ra còn sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Cho đến nay, cho biết các doanh nghiệp sử dụng thêm các chỉ tiêu khác như: Lợi nhuận trước lãi vay các nghiên cứu về công bố TTBPKD chủ yếu thực hiện với các hướng nghiên cứu như và thuế; Lợi nhuận trước lãi vay, thuế và khấu hao; Lợi nhuận trước lãi vay, thuế và sau: hướng nghiên cứu về thực trạng các doanh nghiệp công bố TTBPKD theo yêu cầu khấu hao có điều chỉnh hoặc có những doanh nghiệp không có tiêu chí rõ ràng, cụ thể của chuẩn mực kế toán và hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tô đến mức độ là có 36% các công ty sử dụng Lợi nhuận hoạt động kinh doanh hoặc Lợi nhuận hoạt công bố TTBPKD trên BCTC. động kinh doanh có điều chỉnh, 9% sử dụng Lợi nhuận trước lãi vay và thuế, 9% sử 2. Tổng quan nghiên cứu về thực trạng công bố thông tin bộ phận kinh dụng Lợi nhuận trước lãi vay, thuế và khấu hao hoặc Lợi nhuận trước lãi vay, thuế và doanh của các doanh nghiệp khấu hao có điều chỉnh, 23% sử dụng các tiêu chí khác và 23% các doanh nghiệp còn Đầu tiên là nghiên cứu do Phạm Thị Thủy (2013) về “Trình bày và sử dụng thông lại không có tiêu chí rõ ràng. tin về BCBP theo VAS 28 tai các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam”.
Nghiên cứu khác cũng nhằm giải thích thực trạng về công bố TTBPKD của các Nghiên cứu đã làm rõ thực trạng lập BCBP trong các doanh nghiệp hiện nay, đặc biệt doanh nghiệp niêm yết, đó là nghiên cứu của Lê Thị Tú Oanh và Phạm Thị Hồng Hoa là các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK-đối tượng bắt buộc phải lập BCBP theo quy (2016) với đề tài “Công bố thông tin về BCBP trong các công ty cỗ phần niêm yết trên định của VAS 28. Nghiên cứu thực hiện với số liệu BCTC năm 2012 của 30 doanh TTCK Việt Nam” được thực hiện thông qua khảo sát 60 doanh nghiệp niêm yết. Kết nghiệp niêm yết thuộc danh mục rỗ VN30 áp dụng ngày 22/7/2103 để phân tích. Đây quả nghiên cứu cho thấy 39 doanh nghiệp có thực hiện công bố TTBPKD trên BCTC là những doanh nghiệp được cho là có giá trị vốn hóa và tính thanh khoản cao nhất chiếm tỷ lệ 65%; 21 doanh nghiệp không công bố TTBPKD chiếm tỷ lệ 35%.
Trong trên TTCK. Nghiên cứu đã chỉ ra: 12 công ty (chiếm 40%) không cung cấp BCBP, 13 số các doanh nghiệp công bố TTBPKD, BCBP trình bày theo lĩnh vực kinh doanh là công ty (chiếm 43,3%) cung cấp BCBP theo lĩnh vực kinh doanh, bốn công ty (chiếm 20 doanh nghiệp chiếm 33%, bảy doanh nghiệp trình bày theo khu vực địa lý chiếm 13,3%) cung cấp BCBP theo khu vực địa lý và một công ty cung cấp BCBP không 12%, còn lại là 12 đơn vị trình bày BCBP theo cả khu vực địa lý và lĩnh vực kinh theo lĩnh vực kinh doanh cũng như khu vực địa lý, mà là theo các đơn vị trực thuộc. Qua khảo sát, nghiên cứu cũng chỉ rõ thực trạng về TTBPKD được Đặc biệt chỉ có 2 công ty trình bày cả hai BCBP chính yếu (theo khu vực địa lý) và trình bày, đó là: xác định tiêu chí bộ phận để lập báo cáo chưa thống nhất giữa các bộ BCBP thứ yếu (theo lĩnh vực kinh doanh). Các doanh nghiệp không lập BCBP đã đưa phận, chỉ tiêu bộ phận được báo cáo chưa nhất quán và chưa đáp ứng yêu cầu theo 12 13 VAS 28 cũng như kì vọng của nhà đầu tư, hoặc số liệu báo cáo không đáp ứng được tin hai bộ phan.
Thi hai, về mức độ TTBPKD được công bố giữa các công ty khác yêu cầu có thể so sánh được qua các năm. nhau khá nhiều, có công ty chỉ cung cấp một chỉ tiêu về TTBPKD trong khi đó công Gần đây nhất, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vân (2018) về “Hoàn thiện ty cung cấp nhiều nhất là 67 chỉ tiêu. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ rõ những việc công bố TTBP trong hệ thống BCTC tại các doanh nghiệp cỗ phần niêm yết trên TTBPKD nào công ty cung cấp kèm theo số lượng công ty, ví dụ như nghiên cứu chỉ TTCK Việt Nam”. Nghiên cứu thực hiện với mẫu là 50 doanh nghiệp niêm yết trên ra có 29 công ty cung cấp thông tin vẻ lãi/1ỗ bộ phận, có 21 công ty cung cấp thông TTCK Việt Nam được trao giải Báo cáo thường niên năm 2016 và sử dụng số liệu tin về tài sản bộ phận, 16 công ty cung cấp thông tin về nợ phải trả bộ phận, có 33 công ty cung cấp thông tin về doanh thu bộ phận, có 14 công ty cung cấp về chỉ phí BCTC của 50 doanh nghiệp nảy trong khoảng thời gian từ 2011-2015.
Kết qủa nghiên khấu hao TCSĐ. Tuy nhiên trong số 33 công ty cung cấp thông tin về doanh thu bộ cứu đã chỉ ra 33% các công ty không cung cấp BCBP và 67% các công ty thực hiên phận thì có 20 công ty không tách rõ doanh thu bán hàng ra bên ngoài và doanh thu cung cấp BCBP trên Thuyết minh BCTC. Doanh nghiệp công bố TTBPKD đa phần là các doanh nghiệp bất động sản; tài chính ngân hàng, bảo hiểm; thông tin, truyền nội bộ. Tứ ba, về chỉ tiêu đo lường kết quả bộ phận cụ thể có bảy công ty cung cấp thông.
Đồng thời, tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân cũng chỉ ra các doanh nghiệp niêm kết quả hoạt động bộ phận, 13 công ty cung cấp thu nhập trước thuế, chín công ty yết trên Sàn HOSE cung cấp nhiều TTBPKD hơn so với các doanh nghiệp niêm yết cung cấp thu nhập sau thuế và bốn công ty không cung cấp thông tin về kết quả hoạt động bộ phận. trên Sàn HNX. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra 80,65% doanh nghiệp lập BCBP chính yếu, chỉ có 19,35% lập cả BCBP chính yếu và BCBP thứ yếu. Trong đó đa Tiếp đến là nghiên cứu của Raju & Kalyanshetti (201 1) thực hiện khảo sát 45 phần các doanh nghiệp lập BCBP theo lĩnh vực kinh doanh (chiếm 70,97%), còn lại doanh nghiệp công nghệ thông tin ở Ấn Độ.
Nghiên cứu sử dụng cả nguồn dữ liệu sơ là 29,03% lập BCBP theo khu vực địa lý và duy nhất một công ty không thực hiện cấp và thứ cấp. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi gửi đến các lập BCBP theo lĩnh vực kinh doanh hay khu vực địa lý mà lập theo các đơn vị trực doanh nghiệp công nghệ thông tin. Bảng câu hỏi có hai phần: Phần thứ nhất bao gồm thuộc. bảy câu hỏi liên quan đến hồ sơ của các doanh nghiệp và Phần thứ hai bao gồm 22 Bên cạnh đó, nghiên cứu của V]ladimir & Nemanjia (2016) thực hiện xem xét câu hỏi đóng liên quan đến thực tế và công bố TTBPKD.
Ban đầu, một mẫu gồm 150 công ty công nghệ thông tin Ấn Độ được liệt kê trên BSE / NSE đã được chọn. Danh Thuyết minh BCTC của 500 công ty thu thập trên website Business Registers Agency sách những tên công ty này được thu thập từ trang web, http://www. Kết của Cộng hoà Serbia. Sau khi xem xét chỉ có 33 công ty chiếm 6,6% là cung cấp thông tin về BCBP, còn lại 93,4% công ty không lập BCBP trong Thuyết minh quả chỉ có 45 công ty tham gia trả lời câu hỏi và gửi phản hồi.