Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Công bố thông tin bộ phận kinh doanh trên báo cáo tài chính tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" do nghiên cứu sinh Đàm Thị Kim Oanh thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2020), chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán và Phân tích (mã số: 9340301), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Thị Thủy và TS. Phạm Thành Long.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Báo cáo tài chính (BCTC) là nguồn cung cấp dữ liệu tổng hợp và chi tiết về tài sản, nguồn vốn, dòng tiền và kết quả hoạt động nhằm phục vụ các quyết định kinh tế của các bên liên quan. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam—từ 08 công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ ban đầu đã tăng lên 731 doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn với quy mô đăng ký giao dịch đạt 959 nghìn tỷ đồng vào năm 2017—hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng đa dạng và phức tạp. Yêu cầu minh bạch thông tin không chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu hợp nhất toàn doanh nghiệp mà đòi hỏi phải chi tiết hóa theo từng bộ phận kinh doanh hoặc khu vực địa lý để phản ánh rủi ro và tỷ suất sinh lời riêng biệt.
Mặc dù Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 28 (VAS 28 - Báo cáo bộ phận) đã được ban hành và có hiệu lực từ năm 2005, việc tuân thủ của các doanh nghiệp niêm yết vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Nhiều đơn vị lập báo cáo bộ phận (BCBP) mang tính đối phó, sơ sài, thiếu nhất quán giữa các năm và chưa đáp ứng kỳ vọng phân tích của nhà đầu tư. Các nghiên cứu học thuật trước đây tại Việt Nam và quốc tế chủ yếu tập trung vào mức độ công bố thông tin tài chính chung, rất ít công trình đi sâu vào thông tin bộ phận kinh doanh (TTBPKD), đặc biệt là việc phân định chi tiết giữa thông tin bắt buộc và tự nguyện, cũng như giữa bộ phận chính yếu và thứ yếu. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến mức độ công bố TTBPKD ở các thị trường còn mâu thuẫn và chưa thống nhất.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ công bố TTBPKD trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam dựa trên các lý thuyết nền tảng (Lý thuyết đại diện, Lý thuyết tín hiệu, Lý thuyết nhu cầu vốn, Lý thuyết chi phí sở hữu); từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện việc công bố thông tin, gia tăng tính minh bạch và hỗ trợ người sử dụng thông tin ra quyết định.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng cung cấp TTBPKD tại các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam trên cơ sở đối chiếu với các quy định pháp lý hiện hành.
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố TTBPKD trên BCTC của các doanh nghiệp này.
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến mức độ công bố TTBPKD trên BCTC của mẫu nghiên cứu.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án thiết lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu được đánh số cụ thể như sau:
- (1) Thực trạng công bố TTBPKD trên Thuyết minh BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam như thế nào?
- (1.1) Thực trạng công bố TTBPKD trên Thuyết minh BCTC theo lĩnh vực và theo khu vực địa lý như thế nào?
- (1.2) Thực trạng công bố TTBPKD trên Thuyết minh BCTC theo chính yếu và thứ yếu như thế nào?
- (1.3) Thực trạng công bố TTBPKD tự nguyện và bắt buộc như thế nào?
- (1.4) Thực trạng công bố chỉ tiêu kết quả bộ phận như thế nào?
- (2) Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến mức độ công bố TTBPKD trên Thuyết minh BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam?
- (3) Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới mức độ công bố TTBPKD trên Thuyết minh BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: TTBPKD trên BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố TTBPKD của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết.
- Phạm vi không gian: Các công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Các tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng bị loại trừ do phải tuân thủ chế độ BCTC và quy định báo cáo đặc thù riêng biệt ngoài chuẩn mực kế toán chung.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 5 năm liên tục, từ năm 2013 đến năm 2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhánh trọng tâm:
1. Nhóm nghiên cứu về thực trạng công bố TTBPKD
- Tại Việt Nam: Nghiên cứu của Phạm Thị Thủy (2013) khảo sát 30 doanh nghiệp rổ VN30 năm 2012 cho thấy 40% doanh nghiệp không lập BCBP; 43,3% lập theo lĩnh vực kinh doanh; 13,3% lập theo khu vực địa lý; chỉ có 2 công ty trình bày cả báo cáo chính yếu và thứ yếu; về tiêu chí kết quả bộ phận, 77,8% dùng lợi nhuận hoạt động kinh doanh, 11,1% dùng lợi nhuận gộp và 11,1% dùng lợi nhuận sau thuế. Nghiên cứu của Lê Thị Tú Oanh và Phạm Thị Hồng Hoa (2016) trên 60 doanh nghiệp niêm yết ghi nhận 65% có công bố TTBPKD (33% theo lĩnh vực, 12% theo địa lý, 20% kết hợp cả hai), nhưng tiêu chí xác định bộ phận và số liệu so sánh qua các năm thiếu nhất quán. Nguyễn Thị Hồng Vân (2018) nghiên cứu 50 doanh nghiệp đạt giải Báo cáo thường niên giai đoạn 2011–2015 chỉ ra 33% không cung cấp BCBP; 80,65% chỉ lập báo cáo chính yếu; sàn HOSE công bố nhiều TTBPKD hơn HNX.
- Trên thế giới: Báo cáo của KPMG (2010) khảo sát Fortune Global 500 khi áp dụng IFRS 8 chỉ ra 66% lập theo lĩnh vực, 11% theo địa lý, 23% lập hỗn hợp; 36% dùng lợi nhuận hoạt động. Vladimir và Nemanja (2016) khảo sát 500 công ty tại Serbia cho thấy chỉ 6,6% lập BCBP do phần lớn không niêm yết. Raju và Kalyanshetti (2011) khảo sát 45 công ty công nghệ thông tin tại Ấn Độ nhận thấy 67% lập cả hai loại báo cáo, 82% chọn lĩnh vực kinh doanh làm báo cáo chính yếu, nhưng chỉ 11% công bố đủ các chỉ tiêu bắt buộc. Hessling và Jakkola (2008) tại Thụy Điển ghi nhận 78% doanh nghiệp chọn lĩnh vực kinh doanh làm báo cáo chính yếu và 17% chọn theo địa lý.
2. Nhóm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố TTBPKD
- Nhóm đặc điểm doanh nghiệp:
- Quy mô doanh nghiệp: Các nghiên cứu của Cerf (1961), Singhvi và Desai (1971), Buzby (1975), Michael (1992), Herrmann và cộng sự (1966), Low và Mazlina (2001), Talha và cộng sự (2007), Mishari và cộng sự (2013), Chavent và cộng sự (2006), Júlia và cộng sự (2016), Trần Thị Thúy An (2013), Nguyễn Thị Hồng Vân (2018) đều kết luận quy mô doanh nghiệp (đo lường bằng logarit tổng tài sản hoặc tổng vốn) có tác động thuận chiều đến mức độ công bố thông tin nhằm giảm chi phí chính trị và chi phí vốn. Trái lại, Kabir và cộng sự (2013) tại Nigeria kết luận quy mô không có ảnh hưởng đáng kể.
- Khả năng sinh lời: Belkaoui và Kahl (1978), Manuela và cộng sự (2013), Nguyễn Thị Phương Thúy (2010), Nguyễn Thị Hồng Vân (2018) tìm thấy mối quan hệ ngược chiều do lo ngại chi phí cạnh tranh. Ngược lại, Singhvi và Desai (1971), Bradbury (1992), Mishari và Faisal (2011) xác nhận tác động thuận chiều; trong khi McKinnon và cộng sự (1993), Júlia và cộng sự (2016) không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê.
- Đòn bẩy tài chính: Bradbury (1992), Wan và cộng sự (2015) ghi nhận tác động thuận chiều nhằm xoa dịu xung đột với chủ nợ. Tuy nhiên, McKinnon và cộng sự (1993) cho thấy biến này không có ý nghĩa tại Ý do doanh nghiệp có kênh thông tin riêng với ngân hàng.
- Chủ thể kiểm toán: Mishari và Faisal (2011), Annelien (2009), Trần Thị Thúy An (2013), Nguyễn Thị Hồng Vân (2018) khẳng định các doanh nghiệp được kiểm toán bởi Big-4 công bố nhiều TTBPKD hơn.
- Nhóm quản trị doanh nghiệp:
- Kabir và Hartini (2013) tại Nigeria nhận thấy chỉ có tính tách biệt giữa Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc (CEO) có ảnh hưởng, các biến quy mô HĐQT hay thành viên độc lập không có tác động.
- Tại Việt Nam, Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Thanh Phương (2014) khảo sát 99 công ty trên HOSE cho thấy quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên không điều hành và sự tách biệt CEO không ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính chung. Ngô Mỹ Trân và cộng sự (2017) trên 229 công ty giai đoạn 2013–2015 chỉ ra tỷ lệ thành viên độc lập HĐQT và tỷ lệ sở hữu nước ngoài tác động thuận chiều, còn sự kiêm nhiệm của CEO tương quan nghịch với công bố thông tin tự nguyện.
- Phân tán sở hữu: McKinnon và cộng sự (1993) chỉ ra phân tán sở hữu tác động thuận chiều; Kabir và cộng sự (2013), Mishari và cộng sự (2011), Manuela và cộng sự (2013) cho thấy không có ảnh hưởng; Annelien (2009) lại chỉ ra tác động ngược chiều đến TTBPKD bắt buộc.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
- Khắc phục sự thiếu hụt các nghiên cứu toàn diện về TTBPKD trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn sau khủng hoảng tài chính và hoàn thiện thể chế (2013–2017).
- Tách bạch chi tiết việc công bố TTBPKD thành các thành phần: báo cáo chính yếu (PRI_SEG) – báo cáo thứ yếu (SE_SEG); thông tin bắt buộc (MAN_SEG) – thông tin tự nguyện (VOL_SEG), thay vì chỉ đánh giá một chỉ số gộp chung.
- Áp dụng phương pháp kinh tế lượng phù hợp với bản chất biến đếm (count data) dạng phi tuyến thay cho các mô hình hồi quy tuyến tính (OLS) vốn bị vi phạm giả định khi biến phụ thuộc nhận giá trị nguyên không âm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án vận dụng bốn lý thuyết kinh tế và tài chính làm nền tảng giải thích hành vi công bố thông tin:
- Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Xem xét xung đột lợi ích và sự bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý (người đại diện) và cổ đông/chủ nợ (người ủy thác). Việc công bố TTBPKD chi tiết giúp giảm chi phí đại diện và tăng cường năng lực giám sát của thị trường.
- Lý thuyết tín hiệu (Signalling Theory): Các doanh nghiệp có kết quả hoạt động tốt hoặc cấu trúc quản trị lành mạnh có động lực chủ động công bố nhiều TTBPKD hơn để phát tín hiệu tích cực ra thị trường, phân biệt mình với các doanh nghiệp kém hiệu quả nhằm thu hút vốn.
- Lý thuyết nhu cầu vốn (Capital Needs Theory): Doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn từ bên ngoài sẽ gia tăng mức độ công bố thông tin chi tiết trên BCTC nhằm giảm bớt sự không chắc chắn từ phía nhà đầu tư, từ đó giảm chi phí sử dụng vốn cổ phần và nợ vay.
- Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Cost Theory): Lý giải việc hạn chế công bố thông tin bộ phận. Khi việc trình bày doanh thu, chi phí, lợi nhuận chi tiết của từng mảng kinh doanh có thể làm lộ bí mật kinh doanh cho đối thủ cạnh tranh, nhà quản lý sẽ cân nhắc đánh đổi giữa lợi ích minh bạch và chi phí thiệt hại vị thế cạnh tranh.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp kế toán thực chứng (positive accounting research), kết hợp giữa thống kê mô tả và mô hình hồi quy định lượng trên dữ liệu bảng (panel data).
Mẫu nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Dữ liệu được thu thập từ BCTC kiểm toán, Thuyết minh BCTC và Báo cáo quản trị của các công ty niêm yết trên HNX và HOSE trong 5 năm (2013–2017).
- Quy trình chọn mẫu dựa trên phân loại 14 ngành cơ bản theo chuẩn ICB do StoxPlus cung cấp (Việt hóa từ chuẩn quốc tế). Các ngành có dưới 10 doanh nghiệp được chọn toàn bộ; các ngành trên 10 doanh nghiệp được chọn đại diện đảm bảo bao phủ các phân ngành nhỏ. Sau khi loại bỏ các đơn vị thiếu dữ liệu liên tục 5 năm và khối tài chính, mẫu nghiên cứu chính thức gồm 129 doanh nghiệp theo dõi trong 5 năm, tạo thành bộ dữ liệu bảng cân đối gồm 645 quan sát.
| STT |
Tên ngành theo chuẩn ICB |
Số lượng doanh nghiệp |
| 1 |
Bán lẻ |
6 |
| 2 |
Công nghệ thông tin |
9 |
| 3 |
Du lịch & Giải trí |
7 |
| 4 |
Dầu khí |
3 |
| 5 |
Hàng & Dịch vụ Công nghiệp |
18 |
| 6 |
Hàng cá nhân & Gia dụng |
10 |
| 7 |
Hóa chất |
8 |
| 8 |
Thực phẩm & Đồ uống |
9 |
| 9 |
Truyền thông |
5 |
| 10 |
Tài nguyên Cơ bản |
8 |
| 11 |
Xây dựng & Vật liệu |
32 |
| 12 |
Y tế |
2 |
| 13 |
Ô tô và phụ tùng |
5 |
| 14 |
Điện, nước & Xăng dầu khí đốt |
7 |
| Tổng cộng |
14 ngành |
129 |
Đo lường các biến nghiên cứu
- Biến phụ thuộc (Biến đếm nhận giá trị nguyên không âm):
SEG: Mức độ TTBPKD công bố tổng thể.
PRI_SEG: Số lượng chỉ tiêu TTBPKD chính yếu.
SE_SEG: Số lượng chỉ tiêu TTBPKD thứ yếu.
MAN_SEG: Số lượng chỉ tiêu TTBPKD bắt buộc (theo VAS 28: cơ sở lập, doanh thu nội bộ, doanh thu bên ngoài, khấu hao TSCĐ, mua sắm TSCĐ, chi phí lớn không bằng tiền, tài sản bộ phận, nợ phải trả bộ phận).
VOL_SEG: Số lượng chỉ tiêu TTBPKD tự nguyện (chi phí tài chính, doanh thu tài chính, các khoản dự phòng, lãi/lỗ hoạt động đầu tư, góp vốn...).
- Biến độc lập:
- Nhóm đặc điểm doanh nghiệp:
AGE (Số năm hoạt động tính đến thời điểm nghiên cứu); SIZE (Logarit tự nhiên của tổng tài sản); LEVERAGE (Tổng nợ phải trả / Tổng tài sản); PROFIT (Tỷ số lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản - ROA).
- Nhóm quản trị doanh nghiệp:
AUDIT (Biến giả, bằng 1 nếu được kiểm toán bởi công ty kiểm toán Big-4, bằng 0 nếu ngược lại); BOARD (Số lượng thành viên HĐQT); IDV (Số lượng thành viên HĐQT không điều hành); DUAL (Biến giả, bằng 1 nếu có sự tách biệt giữa Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc/CEO, bằng 0 nếu kiêm nhiệm); MEET (Số lượng buổi họp HĐQT trong năm); OWNDIF (Tỷ lệ phần trăm cổ phiếu nắm giữ bởi các cổ đông sở hữu dưới 5%).
- Biến kiểm soát:
INDUS (Phân loại theo ngành kinh doanh).
Kỹ thuật và mô hình phân tích dữ liệu
Do các biến phụ thuộc $Y_{it}$ (SEG, PRI_SEG, SE_SEG, MAN_SEG, VOL_SEG) là các biến đếm nhận giá trị nguyên không âm ($0, 1, 2...$), mô hình hồi quy tuyến tính OLS không phù hợp. Luận án áp dụng kỹ thuật hồi quy phi tuyến dành cho dữ liệu bảng bằng phần mềm STATA:
- Mô hình hồi quy Poisson: Giả định biến phụ thuộc có phân phối Poisson với kỳ vọng và phương sai bằng nhau:
$$E[Y_{it} | \alpha_i, X_{it}] = \mu_{it} = \alpha_i \exp(\beta' X_{it})$$
- Mô hình hồi quy Nhị thức âm (Negative Binomial Regression): Áp dụng khi có hiện tượng thừa phân tán (phương sai lớn hơn trung bình), với phương sai xác định theo công thức $\mu_{it}(1 + \delta \mu_{it})$. Khi tham số phân tán $\delta = 0$, mô hình trở về dạng Poisson.
- Quy trình ước lượng và kiểm định:
- Bước 1: Ước lượng hệ số theo phương pháp Hợp lý cực đại (Maximum Likelihood), kiểm định ý nghĩa tổng thể mô hình thông qua kiểm định Wald ($\chi^2$) và Likelihood Ratio test.
- Bước 2: So sánh mô hình Tác động cố định (Fixed Effects - FE) và Tác động ngẫu nhiên (Random Effects - RE) thông qua kiểm định Hausman và các tiêu chí thông tin AIC, Log-likelihood.
- Bước 3: Đánh giá ảnh hưởng và mức ý nghĩa thống kê của từng hệ số hồi quy $\beta_k$ đối với các biến phụ thuộc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 1 thiết lập tổng thể đề tài nghiên cứu, làm rõ bối cảnh TTCK Việt Nam và sự cần thiết phải nâng cao tính minh bạch thông tin tài chính thông qua báo cáo bộ phận. Chương này xác định rõ mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 nhóm câu hỏi nghiên cứu chính (gồm 4 câu hỏi nhánh về thực trạng), đối tượng nghiên cứu là TTBPKD và các nhân tố tác động, cùng phạm vi khảo sát 129 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên HNX và HOSE từ 2013 đến 2017. Đồng thời, chương 1 phác thảo khung nghiên cứu tổng thể và bố cục 5 chương của toàn bộ luận án.
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu, lý luận chung và cơ sở lý thuyết về công bố thông tin bộ phận kinh doanh của các doanh nghiệp
Chương 2 trình bày có hệ thống lịch sử hình thành các chuẩn mực kế toán bộ phận trên thế giới: bắt đầu từ SFAS 14 (1976) và SFAS 131 (1997) của FASB (Hoa Kỳ), đến IAS 14 (1981), IAS 14R (1997, 2003) và IFRS 8 (ban hành 2006, áp dụng từ 2009) của IASB. Tại Việt Nam, Bộ Tài chính ban hành VAS 28 năm 2005 dựa trên IAS 14.
Chương này tổng thuật chi tiết các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước (tổng hợp qua Bảng 2.1 của luận án), phân tích vai trò của thông tin bộ phận đối với việc ra quyết định kinh doanh, yêu cầu chất lượng thông tin kế toán, cũng như phân định rõ các khái niệm: bộ phận kinh doanh, bộ phận địa lý, báo cáo chính yếu, báo cáo thứ yếu, thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện. Chương 2 làm rõ bốn lý thuyết nền tảng (Đại diện, Tín hiệu, Nhu cầu vốn, Chi phí sở hữu) để giải thích cơ chế hành vi công bố thông tin của doanh nghiệp.
Chương 3: Xây dựng giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu, Chương 3 xây dựng 10 giả thuyết khoa học về các nhân tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp (Tuổi doanh nghiệp, Quy mô, Đòn bẩy tài chính, Khả năng sinh lời) và quản trị doanh nghiệp (Chủ thể kiểm toán, Quy mô HĐQT, Thành viên HĐQT không điều hành, Tách biệt CEO và Chủ tịch HĐQT, Số buổi họp HĐQT, Mức độ phân tán quyền sở hữu) tác động đến mức độ công bố TTBPKD.
Chương này trình bày chi tiết thang đo cho từng biến, quy trình chọn mẫu phân tầng 129 doanh nghiệp thuộc 14 ngành theo chuẩn ICB của StoxPlus với 645 quan sát giai đoạn 2013–2017, và xây dựng khung toán học cho mô hình hồi quy phi tuyến Poisson và Nhị thức âm đối với dữ liệu bảng (kỹ thuật Pooled, FE, RE).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 trình bày các phát hiện thực nghiệm về thống kê mô tả, ma trận tương quan, thực trạng công bố thông tin và kết quả hồi quy kinh tế lượng.
1. Thống kê mô tả các biến nghiên cứu
| Tên biến |
Ký hiệu |
Số quan sát |
Trung bình |
Trung vị |
Độ lệch chuẩn |
Nhỏ nhất |
Lớn nhất |
| Nhóm đặc điểm doanh nghiệp |
|
|
|
|
|
|
|
| Tuổi doanh nghiệp |
AGE |
645 |
17,44186 |
15,00000 |
8,556450 |
3,00000 |
45,00000 |
| Quy mô doanh nghiệp |
SIZE |
645 |
11,86588 |
11,78356 |
0,722350 |
10,21905 |
13,79162 |
| Đòn bẩy tài chính |
LEVERAGE |
645 |
0,503998 |
0,530245 |
0,221693 |
0,00752 |
0,990542 |
| Khả năng sinh lời |
PROFIT |
645 |
0,063301 |
0,046553 |
0,092843 |
-0,22147 |
0,990542 |
| Nhóm quản trị doanh nghiệp |
|
|
|
|
|
|
|
| Chủ thể kiểm toán |
AUDIT |
645 |
0,195349 |
0,000000 |
0,396777 |
0,00000 |
1,000000 |
| Quy mô HĐQT |
BOARD |
645 |
5,725581 |
5,000000 |
1,201983 |
3,00000 |
11,00000 |
| TV HĐQT không điều hành |
IDV |
645 |
3,629457 |
3,000000 |
1,282007 |
1,00000 |
9,000000 |
| Tách biệt CEO và Chủ tịch |
DUAL |
645 |
0,708527 |
1,000000 |
0,454793 |
0,00000 |
1,000000 |
| Số buổi họp HĐQT |
MEET |
645 |
9,448062 |
7,000000 |
11,60086 |
1,00000 |
156,0000 |
| Phân tán quyền sở hữu (%) |
OWNDIF |
645 |
47,76764 |
46,20000 |
21,69316 |
0,49000 |
100,0000 |
| Nhóm biến phụ thuộc (công bố thông tin) |
|
|
|
|
|
|
|
| Mức độ TTBP công bố tổng thể |
SEG |
645 |
8,641860 |
8,000000 |
4,278407 |
2,00000 |
25,00000 |
| TTBP bắt buộc |
MAN_SEG |
645 |
6,103876 |
6,000000 |
2,707260 |
2,00000 |
18,00000 |
| TTBP tự nguyện |
VOL_SEG |
645 |
2,537984 |
2,000000 |
3,064098 |
0,00000 |
15,00000 |
| TTBP chính yếu |
PRI_SEG |
645 |
8,027907 |
7,000000 |
4,307926 |
2,00000 |
25,00000 |
| TTBP thứ yếu |
SE_SEG |
645 |
0,286822 |
0,000000 |
0,803658 |
0,00000 |
5,000000 |
2. Mối tương quan giữa các biến nghiên cứu
Kết quả ma trận hệ số tương quan (Bảng 4.4) cho thấy hệ số tương quan giữa các biến độc lập ở mức thấp (phần lớn dưới 0,3; cao nhất giữa BOARD và IDV là 0,603), khẳng định không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng trong mô hình.
3. Thực trạng công bố TTBPKD tại các doanh nghiệp
- Lập BCBP theo lĩnh vực và địa lý: Trong suốt 5 năm (2013–2017), có 105 doanh nghiệp (82%) lập BCBP chính yếu theo lĩnh vực kinh doanh; 23 doanh nghiệp (17,8%) lập theo khu vực địa lý; chỉ duy nhất 1 doanh nghiệp (0,2% - Công ty Cổ phần Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy, mã chứng khoán HHS) lập BCBP theo kiểu hỗn hợp kết hợp cả lĩnh vực và địa lý. Tỷ lệ lập báo cáo theo lĩnh vực kinh doanh chiếm ưu thế gần gấp 5 lần so với khu vực địa lý. Chỉ có 6 doanh nghiệp (4,7%) thay đổi tiêu chí xác định báo cáo chính yếu trong giai đoạn khảo sát.
- Lập BCBP chính yếu và thứ yếu: Tỷ lệ doanh nghiệp không lập BCBP thứ yếu ở mức cao (trên 80%). Số lượng doanh nghiệp lập cả báo cáo chính yếu và thứ yếu có xu hướng giảm dần qua các năm: năm 2013 có 23 doanh nghiệp (17,8%); năm 2014 và 2015 có 22 doanh nghiệp (17%); năm 2016 có 19 doanh nghiệp (15%); đến năm 2017 giảm xuống còn 17 doanh nghiệp (13%). Các doanh nghiệp lập đủ cả hai loại báo cáo chủ yếu tập trung ở ngành Hàng cá nhân & Gia dụng (6 doanh nghiệp duy trì qua 5 năm) và ngành Xây dựng & Vật liệu (từ 3 đến 6 doanh nghiệp).
- Mức độ công bố chi tiết: Mức độ công bố thông tin có sự chênh lệch lớn giữa các doanh nghiệp. Đối với biến tổng thể
SEG, mức công bố dao động từ 2 đến 25 chỉ tiêu (trung bình 8,64). TTBP bắt buộc (MAN_SEG) đạt trung bình 6,1 chỉ tiêu (tối đa 18, tối thiểu 2). TTBP tự nguyện (VOL_SEG) đạt trung bình 2,54 chỉ tiêu (nhiều doanh nghiệp hoàn toàn không công bố, giá trị bằng 0; doanh nghiệp công bố nhiều nhất đạt 15 chỉ tiêu). TTBP thứ yếu (SE_SEG) có trung vị bằng 0, giá trị trung bình chỉ đạt 0,287 chỉ tiêu.
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và các khuyến nghị
Chương 5 tiến hành so sánh, đối chiếu các hệ số hồi quy thu được từ mô hình phi tuyến với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và trên thế giới. Tác giả thảo luận nguyên nhân kinh tế dẫn đến thực trạng tuân thủ VAS 28 còn mang tính hình thức, làm rõ sự tác động của các yếu tố quy mô, kiểm toán Big-4 và cấu trúc HĐQT tới việc công bố thông tin. Từ đó, luận án xây dựng hệ thống khuyến nghị cụ thể cho 4 nhóm đối tượng: nhà đầu tư và ngân hàng, doanh nghiệp niêm yết, cơ quan kiểm toán, và các cơ quan quản lý Nhà nước; đồng thời tổng kết những đóng góp mới và hạn chế của đề tài.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về công bố thông tin bộ phận kinh doanh trên BCTC thông qua sự kết hợp của 4 lý thuyết: Lý thuyết đại diện, Lý thuyết tín hiệu, Lý thuyết nhu cầu vốn và Lý thuyết chi phí sở hữu.
- Phát triển thang đo mức độ công bố TTBPKD đa chiều, phân tách chi tiết theo bốn khía cạnh: báo cáo chính yếu, báo cáo thứ yếu, thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện.
- Ứng dụng phương pháp kinh tế lượng phù hợp với dữ liệu bảng khi biến phụ thuộc là biến đếm không âm (mô hình hồi quy Poisson và Nhị thức âm), khắc phục các hạn chế về vi phạm giả định phân phối chuẩn của các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam vốn dùng mô hình hồi quy OLS.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về thực trạng tuân thủ VAS 28 của 129 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên cả hai sàn HNX và HOSE trong 5 năm liên tục (2013–2017).
- Chỉ ra các điểm khiếm khuyết trong thực tế: trên 80% doanh nghiệp bỏ qua việc lập BCBP thứ yếu; số doanh nghiệp lập cả hai báo cáo có chiều hướng giảm dần từ 17,8% (năm 2013) xuống 13% (năm 2017); đa phần doanh nghiệp chỉ công bố các chỉ tiêu tối thiểu theo quy định bắt buộc (trung bình 6,1 chỉ tiêu) và rất hạn chế cung cấp thông tin tự nguyện (trung bình 2,54 chỉ tiêu).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
Luận án đề xuất hệ thống khuyến nghị phân theo bốn chủ thể:
- Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước):
- Sớm nghiên cứu cập nhật, sửa đổi Chuẩn mực kế toán VAS 28 theo hướng tiếp cận chuẩn mực quốc tế IFRS 8 (Operating Segments), chuyển đổi từ phương pháp tiếp cận theo rủi ro/lợi ích sang phương pháp tiếp cận theo định hướng quản trị (management approach).
- Tăng cường chế tài xử phạt và kiểm tra tính tuân thủ công bố thông tin Thuyết minh BCTC đối với các doanh nghiệp niêm yết, đặc biệt là việc yêu cầu lập đầy đủ cả báo cáo bộ phận chính yếu và thứ yếu.
- Đối với doanh nghiệp niêm yết:
- Nhận thức rõ lợi ích của việc minh bạch TTBPKD trong việc giảm chi phí huy động vốn và thu hút các nhà đầu tư tổ chức.
- Hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị nội bộ để đồng nhất việc thu thập dữ liệu bộ phận cho quản trị với việc lập BCBP phục vụ công bố ra bên ngoài.
- Nâng cao chất lượng quản trị công ty, đảm bảo tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành và thành viên độc lập theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp và Thông tư 121/2012/TT-BTC.
- Đối với các công ty kiểm toán và cơ quan kiểm toán:
- Tăng cường soát xét kỹ lưỡng tính đầy đủ và nhất quán của các chỉ tiêu trên BCBP trong Thuyết minh BCTC trước khi phát hành báo cáo kiểm toán.
- Hướng dẫn, tư vấn cho doanh nghiệp khách hàng hiểu đúng về các tiêu chí phân chia bộ phận theo chuẩn mực hiện hành.
- Đối với nhà đầu tư và ngân hàng:
- Nâng cao năng lực phân tích thông tin bộ phận để nhận diện đúng mảng kinh doanh mang lại lợi nhuận cốt lõi và mảng kinh doanh kém hiệu quả, hạn chế rủi ro đầu tư và cấp tín dụng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên nội dung luận án và phạm vi nghiên cứu được công bố, các hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm:
- Về đối tượng khảo sát: Luận án mới chỉ tập trung vào nhóm các công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên HNX và HOSE; chưa bao quát nhóm doanh nghiệp thuộc ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm do đặc thù quy định chế độ BCTC riêng biệt.
- Về khung thời gian: Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở giai đoạn 2013–2017. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng chuỗi dữ liệu sang các năm gần đây hơn để đánh giá sự thay đổi trong bối cảnh tái cấu trúc thị trường chứng khoán.
- Về cơ sở chuẩn mực: Luận án đánh giá mức độ công bố dựa trên Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành (VAS 28). Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể khảo sát sự sẵn sàng và tác động định lượng khi các doanh nghiệp Việt Nam chuyển dịch sang áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 8.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kế toán - Kiểm toán: Tài liệu hữu ích về phương pháp nghiên cứu kế toán thực chứng, đặc biệt là cách thức đo lường mức độ công bố thông tin và quy trình kiểm định kinh tế lượng với mô hình biến đếm phi tuyến (Poisson, Negative Binomial) trên dữ liệu bảng bằng phần mềm STATA (nội dung đáng tham khảo tại Chương 3 và Chương 4).
- Cơ quan quản lý Nhà nước và Ban soạn thảo chuẩn mực kế toán: Cung cấp căn cứ thực nghiệm thực tế về mức độ tuân thủ chuẩn mực VAS 28 để làm cơ sở xây dựng lộ trình áp dụng chuẩn mực IFRS tại Việt Nam (nội dung đáng tham khảo tại Chương 2 và mục khuyến nghị tại Chương 5).
- Kiểm toán viên và chuyên viên phân tích tài chính: Nắm bắt được thực trạng phân bổ báo cáo bộ phận theo ngành nghề, các chỉ tiêu kết quả bộ phận mà doanh nghiệp thường trình bày để phục vụ công tác kiểm toán soát xét và định giá cổ phiếu (nội dung đáng tham khảo tại mục 4.2 và các biểu đồ thực trạng Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát mẫu nghiên cứu gồm bao nhiêu doanh nghiệp và thuộc những ngành nghề nào?
Mẫu nghiên cứu gồm 129 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên hai sàn HNX và HOSE được theo dõi liên tục trong 5 năm (2013–2017), tạo ra bộ dữ liệu bảng gồm 645 quan sát. Các doanh nghiệp được phân bổ trên 14 ngành theo chuẩn ICB do StoxPlus cung cấp: Bán lẻ (6), Công nghệ thông tin (9), Du lịch & Giải trí (7), Dầu khí (3), Hàng & Dịch vụ Công nghiệp (18), Hàng cá nhân & Gia dụng (10), Hóa chất (8), Thực phẩm & Đồ uống (9), Truyền thông (5), Tài nguyên Cơ bản (8), Xây dựng & Vật liệu (32), Y tế (2), Ô tô và phụ tùng (5), Điện nước & Xăng dầu khí đốt (7).
2. Thực trạng lập báo cáo bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh so với theo khu vực địa lý diễn ra như thế nào?
Trong 129 doanh nghiệp khảo sát giai đoạn 2013–2017, có 105 doanh nghiệp (chiếm 82%) lập BCBP chính yếu theo lĩnh vực kinh doanh; 23 doanh nghiệp (chiếm 17,8%) lập theo khu vực địa lý; và duy nhất 1 doanh nghiệp (chiếm 0,2% - Công ty Cổ phần Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy, mã HHS) lập BCBP theo kiểu hỗn hợp. Tỷ lệ lập theo lĩnh vực kinh doanh cao gần gấp 5 lần so với theo khu vực địa lý và cơ cấu này gần như không biến động qua 5 năm (chỉ có 4,7% số doanh nghiệp thay đổi cách lập báo cáo chính yếu).
3. Tỷ lệ doanh nghiệp tuân thủ lập báo cáo bộ phận thứ yếu trong mẫu khảo sát là bao nhiêu?
Tỷ lệ không lập BCBP thứ yếu của các doanh nghiệp niêm yết là rất cao, chiếm trên 80%. Số lượng doanh nghiệp lập cả BCBP chính yếu và thứ yếu giảm dần qua các năm: năm 2013 có 23 doanh nghiệp (17,8%), năm 2014 và 2015 có 22 doanh nghiệp (17%), năm 2016 có 19 doanh nghiệp (15%), và năm 2017 giảm xuống còn 17 doanh nghiệp (13%).
4. Tại sao tác giả sử dụng mô hình hồi quy Poisson và Nhị thức âm thay cho mô hình OLS thông thường?
Tác giả sử dụng mô hình hồi quy phi tuyến Poisson và Nhị thức âm vì các biến phụ thuộc đo lường mức độ công bố thông tin (SEG, PRI_SEG, SE_SEG, MAN_SEG, VOL_SEG) là các biến đếm nhận giá trị nguyên không âm ($0, 1, 2...$). Trong trường hợp dữ liệu đếm, phương sai thường phụ thuộc vào giá trị trung bình hoặc xảy ra hiện tượng thừa phân tán (phương sai lớn hơn trung bình nhiều lần), khiến cho mô hình hồi quy tuyến tính OLS thông thường không thỏa mãn các giả định hồi quy và cho kết quả ước lượng không phù hợp.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Đàm Thị Kim Oanh đã phân tích thực trạng công bố thông tin bộ phận kinh doanh của 129 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2013–2017 dựa trên Chuẩn mực Kế toán VAS 28. Bằng việc vận dụng các lý thuyết nền tảng kết hợp mô hình kinh tế lượng phi tuyến cho dữ liệu bảng (hồi quy Poisson và Nhị thức âm), công trình đã chỉ ra thực tế tuân thủ còn mang tính đối phó, trong đó tỷ lệ doanh nghiệp bỏ qua báo cáo thứ yếu chiếm trên 80% và mức độ công bố thông tin tự nguyện còn rất hạn chế. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm cho các nhà quản lý trong việc sửa đổi, hoàn thiện chuẩn mực kế toán Việt Nam tiệm cận với thông lệ quốc tế IFRS 8, đồng thời đưa ra các khuyến nghị thiết thực cho doanh nghiệp, công ty kiểm toán và nhà đầu tư nhằm nâng cao tính minh bạch trên thị trường tài chính.