CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài Đã có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các công ty trong nhiều thời điểm với những phạm vi khác nhau, tại nhiều quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu của Firth (1979) tại Anh đã tiến hành nghiên cứu đối với 180 công ty nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa mức độ CBTT tự nguyện với quy mô công ty, tình trạng niêm yết và loại công ty kiểm toán. Kết quả cho thấy mối liên hệ tích cực giữa quy mô công ty, tình trạng niêm yết và mức độ CBTT, không có mối liên hệ giữa loại công ty kiểm toán và mức độ CBTT. Nghiên cứu McNally et al (1982) tại New Zealand đã tiến hành nghiên cứu trên 103 công ty để nghiên cứu mối liên hệ giữa mức độ CBTT tự nguyện với quy mô công ty, tỷ lệ lợi nhuận, tỷ lệ tăng trưởng, quy mô công ty kiểm toán, nhóm ngành công nghiệp.
Kết quả cho thấy quy mô công ty có mối quan hệ tích cực với mức độ CBTT tự nguyện. Luận văn thạc sĩ KT Nghiên cứu của Cooke (1992) tại Nhật Bản để nghiên cứu mối liên hệ giữa mức độ CBTT tự nguyện và bắt buộc với quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp. Nghiên cứu được tiến hành đối với 35 công ty. Kết quả cho thấy quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp có mối quan hệ tích cực với mức độ CBTT bắt buộc và tự nguyện.
Và Coooke tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về mức độ CBTT tự nguyện của các công ty tại Nhật được thể hiện trong nghiên cứu của Cooke (1993). Nghiên cứu thực hiện dựa trên BCTN của 48 công ty tại Nhật Bản nhằm đo lường ảnh hưởng của các nhân tố quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp đến mức độ CBTT tự nguyện với chỉ số công bố thông tin không trọng số. Kết quả tìm ra được mức độ CBTT tự nguyện có mối liên hệ với tình trạng niêm yết của công ty. Nghiên cứu của Ahmed and Nicholls (1994) về mức độ CBTT bắt buộc được thực hiện tại Bangladesh được tiến hành đối với 63 công ty, 94 mục công bố nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa công bố thông tin bắt buộc với chỉ số công bố, quy mô công ty, đòn bẩy, công ty kiểm toán, công ty đa quốc gia, trình độ của kế toán trưởng thông qua sử dụng phương pháp nghiên cứu mô hình hồi quy.
Nghiên cứu cho thấy công ty 5 đa quốc gia, trình độ của kế toán trưởng và quy mô công ty ảnh hưởng đến mức độ CBTT bắt buộc. Nghiên cứu của Hossain và các cộng sự (1994) tại Malaysia được tiến hành đối với 67 công ty, 78 mục công bố, sử dụng phương pháp nghiên cứu hồi quy đơn biến và đa biến, nhằm nghiên cứu mối liên hệ giữa mức độ CBTT tự nguyện với chỉ số công bố, quy mô công ty, cấu trúc sở hữu, đòn bẩy, tài sản, công ty kiểm toán và tình trạng niêm yết. Kết quả cho thấy quy mô công ty, cấu trúc sở hữu và tình trạng niêm yết có ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện. Nghiên cứu của Wallace và các cộng sự (1994) tại Tây Ban Nha được tiến hành đối với 50 công ty, 79 mục công bố, sử dụng phương pháp nghiên cứu mô hình hồi quy đa biến, nhằm nghiên cứu mối liên hệ giữa mức độ CBTT với chỉ số công bố, quy mô công ty, đòn bẩy, lợi nhuận, công ty kiểm toán và khả năng thanh toán.
Kết quả cho thấy quy mô công ty, tình trạng niêm yết có ảnh hưởng tích cực, ngược lại thì khả năng thanh toán có ảnh hưởng tiêu cực. Nghiên cứu của Meek & Gray (1995) đã nghiên cứu thực nghiệm ở 116 doanh Luận văn thạc sĩ KT nghiệp ở Mỹ, 64 doanh nghiệp ở Anh và 46 doanh nghiệp ở Châu Âu là các tập đoàn đa quốc gia, nhằm nghiên cứu mối liên hệ giữa các nhân tố quy mô công ty, khu vực công ty, loại ngành, đòn bẩy, công ty đa quốc gia, lợi nhuận, thời gian niêm yết và mức độ CBTT tự nguyện trong báo cáo hàng năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty, khu vực mà công ty hoạt động, thời gian niêm yết, ngành nghề kinh doanh là các nhân tố then chốt có ảnh hưởng đến việc CBTT tự nguyện. Nghiên cứu của Zarzeski (1996) thực hiện nghiên cứu BCTN từ năm 1991 đến năm 1993 trên 7 quốc gia (Pháp, Đức, Hồng Kông, Nhật Bản, Na Uy, Anh, Mỹ) với 256 công ty có quy mô nhỏ, vừa và lớn.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ CBTT phụ thuộc vào văn hóa và sức mạnh của thị trường thông qua các nhân tố doanh thu xuất khẩu, đòn bẩy tài chính và quy mô công ty. Nghiên cứu của Owusu - Ansah (1998) nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm công ty đến mức độ CBTT bắt buộc tại Zimbabwe. Nghiên cứu kết hợp sử dụng báo cáo tài chính và báo cáo thường niên năm 1994 của 49 CTNY tại Zimbabwe, nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tuổi công ty, quy mô công ty, khả năng sinh lời, cấu trúc chủ sở hữu, chất lượng kiểm toán, loại ngành, khả năng thanh toán và đầu tư 6 tài chính ( công ty có công ty con, công ty là công ty liên kết). Kết quả cho thấy tuổi công ty, quy mô của công ty, khả năng sinh lời, cấu trúc chủ sở hữu có tác động tích cực đến mức độ CBTT bắt buộc của công ty.
Nghiên cứu của Ho và Wong (2001) thực hiện kiểm tra các mối quan hệ giữa cơ chế quản trị chính trong công ty (tỷ lệ giám đốc độc lập so với tổng số giám đốc trong HĐQT, sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán tự nguyện, sự tồn tại của cá nhân vừa là giám đốc điều hành vừa là chủ tịch HĐQT, tỷ lệ thành viên gia đình trong HĐQT) và mức độ CBTT tự nguyện ở Hồng Kông. Kết quả cho thấy sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán có liên quan đáng kể, tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện, trong khi tỷ lệ thành viên gia đình trong HĐQT, có mối liên quan tiêu cực đến mức độ CBTT tự nguyện. Hạn chế của bài nghiên cứu là chỉ tập trung nghiên cứu các nhân tố về cơ chế quản trị trong công ty mà không xét đến các nhân tố liên quan đến hiệu quả hoạt động của công ty như lợi nhuận, tính thanh khoản. Nghiên cứu của Châu và Gray (2002) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và mức độ CBTT tự nguyện ở Hồng Kông và Singapore.
Kết quả cho thấy rằng Luận văn thạc sĩ KT mức độ sở hữu bên ngoài có liên quan tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện và nội bộ hoặc quyền sở hữu gia đình có liên quan tiêu cực đến mức độ CBTT tự nguyện. Hạn chế của bài nghiên cứu cũng như nghiên cứu của Ho và Wong (2001), chỉ mới nghiên cứu các nhân tố quản trị trong công ty. Nghiên cứu của Ros Haniffa và Terry Cooke (2002) về ảnh hưởng của nhân tố văn hóa, quản trị công ty đến mức độ CBTT tự nguyện của các công ty tại Malaysia. Nghiên cứu được tiến hành đối với 167 công ty, 65 mục công bố, kiểm tra mối liên hệ giữa mức độ CBTT tự nguyện với chỉ số công bố, quản trị công ty, văn hóa và đặc điểm cụ thể của công ty thông qua việc nghiên cứu mô hình hồi quy đa biến.
Kết quả cho thấy đặc điểm cụ thể của từng công ty và đặc điểm quản trị công ty có mối quan hệ với mức độ CBTT tự nguyện, cụ thể các thành viên gia đình thuộc HĐQT, chủ tịch không điều hành có mối quan hệ tiêu cực với mức độ CBTT tự nguyện. Trong đó nhân tố chủ tịch không điều hành có hệ số hồi quy cao nhất, cho thấy một chủ tịch không điều hành là điều cần thiết như một cơ chế kiểm tra và cân bằng. Một trong những hạn chế trong nghiên cứu này là chỉ xem xét mối quan hệ của ba nhóm biến với mức độ CBTT tự nguyện. Như vậy, một phần mở rộng của nghiên cứu này sẽ là kết hợp các 7 nhóm biến này trong các nghiên cứu tiếp theo xem xét với mức độ CBTT bắt buộc, đặc biệt ở các nước đang phát triển bởi vì có lập luận rằng các nước đang phát triển thường không công bố thông tin rộng rãi và có thể không tuân thủ tất cả các yêu cầu.
Nghiên cứu của Jeffrey J. Archambault và Marie E. Archambault (2003), nghiên cứu mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin và mức độ CBTT. Theo nghiên cứu, các nhân tố: quy mô công ty, quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, chính sách cổ tức, kiểm toán, đòn bẩy tài chính, lĩnh vực kinh doanh, doanh thu xuất khẩu,… ảnh hưởng đến mức độ CBTT được phân thành nhóm nhân tố: nhóm nhân tố văn hóa, nhóm nhân tố hệ thống chính trị và kinh tế quốc gia, nhóm nhân tố hệ thống tài chính và hoạt động của công ty.
Bằng nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu trên với mẫu khảo sát là 1.000 công ty công nghiệp hàng đầu ở 41 quốc gia (trong quá trình chạy mô hình thì chỉ còn lại 33 quốc gia), Jeffrey J. Archambault đã đưa ra được mô hình hồi quy về sự tương quan giữa mức độ CBTT và minh bạch thông tin tài chính với các nhân tố đã nêu trên. Archambault kết luận rằng CBTT như là một chức năng của hệ thống văn Luận văn thạc sĩ KT hóa, hệ thống chính trị và kinh tế quốc gia, hệ thống chính sách tài chính và hoạt động của công ty. Kết quả thực nghiệm của nhóm tác giả cho thấy, mỗi nhóm nhân tố trên đều ảnh hưởng đáng kể đến quá trình CBTT, ngay cả đối với những nhân tố mà trong các nghiên cứu trước khẳng định là không có quan hệ với quá trình CBTT thì ở nghiên cứu này tác giả cũng đã chứng minh là khá quan trọng.
Riêng ở góc độ công ty, kết quả thực nghiệm của nhóm tác giả cho rằng, hầu hết các nhân tố phản ánh đặc điểm tài chính và quá trình hoạt động của công ty đều ảnh hưởng đến mức độ CBTT. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng cho rằng CBTT là một quá trình phức tạp chịu sự ảnh hưởng bởi một tập hợp các nhân tố.