CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Geert Braam & Ferdy van Beest (2013) thực hiện đo lường CLTT BCTC trong các DNNY tại Hoa Kỳ (theo GAAP), Anh (theo IFRS), dữ liệu nghiên cứu là các BCTC 10-K. Đo lường CLTT BCTC theo các tiêu chuẩn về CL của FASB & IASB 2010, đã thiết lập các thang đo đo lường CLTTBCTC cho các thuộc tính CL gồm: trung thực, thích hợp, có thể hiểu được, có khả năng so sánh, kịp thời. Nghiên cứu đã cho thấy kết quả rằng CLTT BCTC trong các DN Hoa Kỳ với điểm số 2,94 và các DN Anh là 3,18.
Tuy nhiên các tác giả chỉ thực hiện việc xây dựng thang đo và đo lường CLTTBCTC mà chưa tìm hiểu về các nhân tố có ảnh hưởng đến CLTT BCTC của các DNNY. Jouini Fathi (2013) tiến hành xem xét các yếu tố tác động đến CLTT BCTC với mẫu là các DNNY ở Pháp. Các nhóm nhân tố được Fathi sử dụng trong nghiên cứu gồm: Các đặc điểm của doanh nghiệp, Đặc điểm HĐQT, Chất lượng kiểm toán, cấu trúc sở hữu của các DNNY ở Pháp. Mẫu nghiên cứu là 101 DNNY ở Pháp thời gian từ năm 2004 đến năm 2008.
CLTT BCTC được đánh giá theo 78 mục chỉ số công bố và được đánh giá qua các khoản dồn tích. Sau khi thực hiện phân tích cần thiết chạy kết quả, các tác giả kết luận rằng: Kích cỡ của HĐQT, sự tham gia của các thành viên vào các cuộc họp của HĐQT, sự hiện diện của công ty kiểm toán thuộc Big 4, tình trạng niêm yết thì tác động thuận chiều đến CLTTBCTC của DNNY tại Pháp. Tuy nhiên đề tài này chỉ hạn chế trong phạm vi các DN được niêm yết, cùng với đó thì biến phụ thuộc CLTT BCTC cũng được ước tính bằng chỉ số công bố nên việc đánh giá chỉ số chỉ dựa trên ý kiến chủ quan của nhà nghiên cứu. Nghiên cứu của Nesrine Klai & Abdelwahed Omri (2011) đã kiểm tra sự tác động của các yếu tố thuộc cơ chế quản trị đối với CL BCTC cho 22 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Tunisia trong giai đoạn 1997-2007.
Nghiên cứu đo lường CLTT BCTC theo hai mô hình: (i) Mc Nichols (2002) – coi độ lệch chuẩn của phần dư hoặc phần dư từ mô hình tính toán các khoản dồn tích là thước đo CL BCTC, (ii) Ball & Brown (1968) và Collins & Kothari (1989) – mô 6 hình ước tính mức lợi nhuận hàng năm từ chứng khoán, nếu phần dư từ mô hình có độ lệch chuẩn cao thì CL BCTC kém. Và đi đến kết luận rằng các cơ chế quản trị thể hiện chủ yếu quyền lực của cổ đông nước ngoài, gia đình, cổ đông lớn làm cho thông tin trên BCTC có CL kém, sự hiện diện của họ làm tăng việc quản trị lợi nhuận do theo đuổi các lợi ích cho riêng mình. Ngược lại, sự kiểm soát của Nhà nước và các tổ chức tài chính là ảnh hưởng tích cực đối với CLTT BCTC, vì họ đảm bảo việc kiểm soát quản lý và yêu cầu công bố thông tin. Quy mô DN và cơ hội tăng trưởng có liên quan đến CL BCTC kém, trong khi đó tỷ lệ nợ cải thiện CLTT BCTC.
Nghiên cứu của Ivana Mamis Sacer & Ana Oluic (2013) xem xét sự tác động của công nghệ thông tin đến CL hệ thống TTKT, phân tích các đặc điểm cơ bản của chất lượng hệ thống TTKT, thảo luận về mô hình đo lường CL TTKT. Tác giả đã thực hiện các cuộc khảo sát đối với nhân viên kế toán (NVKT) về độ tuổi trung bình của thiết bị và phần mềm máy tính, sự hỗ trợ về công nghệ thông tin, mức độ tác động của công nghệ thông tin đối với kế toán, sự hài lòng đối với hệ thống TTKT vào các năm 2001, 2008, 2012. Đánh giá theo thang đo Likert 5 điểm về các nhân tố: nhận thức của quản lý về tầm quan trọng của hệ thống TTKT, đào tạo và huấn luyện, bản chất của hệ thống TTKT, kiểm toán hệ thống thông tin. Trong đó, thang đo bản chất hệ thống TTKT được đo lường từ các yếu tố: rất dễ sử dụng, ổn định, có thể nâng cấp và được tích hợp với các hoạt động kinh doanh khác.
Thêm vào đó, nghiên cứu cũng thực hiện khảo sát về CLTT theo các đặc tính thích hợp, có thể hiểu được, kịp thời, bảo mật, đầy đủ, tin cậy. Qua đó, kết luận rằng: công nghệ thông tin tác động đến cách hệ thống TTKT vận hành, đóng góp cho việc chuẩn bị, xử lý, trình bày và cung cấp TTKT. Các công ty cần phải có sự giáo dục phù hợp cho nhân viên và thực hiện kiểm toán liên tục để đảm bảo CL TTKT. Nghiên cứu của Milly Jepchumba Tarus và cộng sự (2015) đã xem xét hai yếu tố năng lực nhân viên, kế toán trên máy tính ảnh hưởng đến tính chính xác của BCTC tại 25 NHTM ở thành phố Nakuru, Kenya.
Tính chính xác được đánh giá theo các thang đo: có các giải thích về các giả định và ước tính trong BCTC, ngân 7 hàng sử dụng các thông tin phi tài chính thích hợp và chính xác để bổ sung cho thông tin tài chính, tính chính xác của quy trình BCTC được tăng cường thông qua cơ chế kiểm toán nội bộ, có các chỉ dẫn cụ thể về tính chính xác của BCTC. Các nhân tố được cho là có ảnh hưởng đến tính chính xác của BCTC, đó là: kiến thức của người sử dụng phần mềm máy tính là ảnh hưởng lớn nhất, tiếp theo là, mức độ đào tạo, sự chuyên nghiệp của nhân viên và đào tạo nội bộ của ngân hàng. Nghiên cứu của Rasha Mahboub (2017) nhằm điều tra các nhân tố tác động đến CL BCTC của các ngân hàng tại Lebanese. Các chỉ tiêu đo lường CL BCTC được đánh giá theo tính thích hợp (10 mục), trình bày trung thực (8 mục), có thể hiểu được (8 mục), có thể so sánh được (7 mục), kịp thời (1 mục).
Kết quả từ mô hình hồi quy đa biến đã chỉ ra mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa đòn bẩy, cấu trúc sở hữu, quy mô HĐQT với CL BCTC. Nhân tố quy mô ngân hàng, lợi nhuận và sự độc lập HĐQT thì không có ý nghĩa. Olowokure và cộng sự (2016) thực hiện xác định sự ảnh hưởng của các nhân tố thuộc đặc điểm của ngân hàng đến CLTT BCTC của NHTM tại Nigeria. CLTT BCTC của nghiên cứu đã được xác định theo CL lợi nhuận thông qua các khoản dự phòng rủi ro tín dụng bất thường, để cho có sự phù hợp với đặc điểm của ngành ngân hàng.
Nghiên cứu đã không tìm thấy chứng cứ nào về mối quan hệ giữa độ tuổi, quy mô, đòn bẩy tài chính với CLTT BCTC. Cùng về chủ đề CLTT BCTC của các NHTM tại Nigeria, đề tài của Adebiyi & Olowookere (2016) đã áp dụng thuần túy cách xác định các khoản dồn tích bất thường theo Dechow và cộng sự (1995) mà chưa có sự sửa đổi cho phù hợp với ngành ngân hàng. Các tác giả đã kết luận rằng sự sở hữu của nhà đầu tư tổ chức và nước ngoài có tác động tiêu cực đến CLTT BCTC, còn sở hữu nhà quản lý giúp cải thiện CL BCTC vì giảm mức độ quản trị lợi nhuận. Tổng hợp một số nghiên cứu trên thế giới về đề tài CLTT BCTC Tên đề tài và tác giả Cách đo lường Các nhân tố ảnh hưởng CLTT BCTC 1.
“Conceptually-Based - Theo các đặc tính Chưa đưa ra các nhân tố Financial Reporting Quality CL BCTC được ảnh hưởng. An Empirical công bố bởi IASB Analysis on Quality và FASB Differences Between UK Annual Reports and US 10-K Reports” (Geert Braam & Ferdy van Beest, 2013). “The Determinants of the - Đo lường theo chỉ Các đặc điểm của DN, Đặc Quality of Financial số công bố thông tin điểm HĐQT, Chất lượng Information Disclosed by gồm 78 mục, các kiểm toán, cấu trúc sở hữu French Listed Companies” khoản dồn tích. “Corporate Governance and - Đo lường CLTT - Sự kiểm soát của cổ đông Financial Reporting Quality: BCTC thông qua các nước ngoài, các cổ đông The Case of Tunisian Firms” khoản dồn tích và lớn, gia đình, các tổ chức (Nesrine Klai & Abdelwahed theo giá trị chứng tài chính và Nhà nước.
- Các biến điều tiết quy mô DN, tỷ lệ nợ và cơ hội tăng trưởng 4. “Information Technology - Các đặc tính CL Nhận thức của quản lý về and Accounting Information của BCTC. tầm quan trọng của hệ System’s Quality in Croatian thống TTKT, huấn luyện Middle and Large Companies” và đào tạo, bản chất của hệ (Ivana Mamis Saser & Ana thống TTKT, kiểm toán hệ Oluis, 2013) thống thông tin. “Determinants of Accurate - Chỉ đo lường tính - Năng lực nhân viên Financial Statements chính xác của - Hệ thống kế toán trên Reporting In Listed Banks in BCTC.
Kenya; A Survey of Commercial Banks In Nakura Town” (Milly Jepchumba Tarus và cộng sự , 2015) 6. “Main Determinants of - Theo các đặc điểm - Đòn bẩy, quy mô ngân Financial Reporting Quality in CL của BCTC. hàng và lợi nhuận, sự độc the Lebanese Banking Sector” lập HĐQT, cấu trúc sở hữu (Rasha Mahboub, 2017) và quy mô HĐQT 7. “Firm Structural - Đo lường CL lợi Độ tuổi, quy mô, đòn bẩy Characteristics and Financial nhuận bằng các Reporting Quality of Listed khoản dự phòng rủi Deposit Money Banks in ro tín dụng bất Nigeria” ( Olowokure và cộng thường.
“Ownership Structure And - Đo lường từ các - Sở hữu nước ngoài, tổ The Quality Of Financial khoản dồn tích. chức, nhà quản lý. Reporting: Evidence From Nigerian Deposit Money Banks” (Adebiyi & Olowookere (2016) (Nguồn:Tác giả tổng hợp) 1. Tổng quan các nghiên cứu Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ của Cao Thị Lệ Thư (2014) đã kế thừa theo nghiên cứu của Jouini Fathi (2013) bảng thuyết minh gồm 78 khoản mục, đã đánh giá CLTTKT trên BCTC bằng chỉ tiêu công bố thông tin không trọng số. Dữ liệu của luận văn gồm 119 BCTC năm 2013 đã kiểm toán của các DN thuộc các nhóm ngành xây 10 dựng, công nghệ chế biến và chế tạo. Trong đó, mô hình hồi quy gồm có biến phụ thuộc CLTTKT và 11 biến độc lập. Luận văn đã nêu ra kết luận rằng: CLTTKT trên BCTC của các DNNY đồng biến với quy mô DN và tỷ lệ thành viên không điều hành của HĐQT; CLTTKT nghịch biến với tỷ lệ cổ phần sở hữu bởi Nhà nước.
Hạn chế của nghiên cứu là do việc đánh giá chỉ số dựa trên ý kiến chủ quan của nhà nghiên cứu nên việc đánh giá trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu. Các khoản mục công bố còn nhiều hạn chế khi nêu rõ hết các nội dung cần đánh giá.