đặt vấn đề như trên ta có thể hiểu theo một nghĩa chung nhất RRTD là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của Hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của NHTM. RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm các hoạt động tín dụng khác như bảo lãnh, tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ dự án …Tuy nhiên trong phạm vi đề tài này chỉ đề cập tới RRTD trong hoạt động cho vay của NHTM và trong nghiên cứu này sẽ sử dụng khái niệm về RRTD như sau: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng, biểu hiện qua việc khách nợ không còn khả năng chi trả. Hậu quả của rủi ro tín dụng Khi rủi ro tín dụng xảy ra nó ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các NHTM và với toàn bộ nền kinh tế, điều này được thể hiện như sau: 1. Đối với bản thân ngân hàng Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của NHTM 4 Peter S.Rose, 2004, Commercial bank management, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, sách dịch.
5 Joël Bessis, 2001, Risk management in banking, John Wiley & Sons.LTD 6 Nguyễn Minh Kiều, 2012, Quản trị rủi ro tài chính, NXB Tài chính 12 Trong xu thế mở cửa và cạnh tranh gay gắt hiện nay, hầu như tất cả các NHTM Việt Nam đều cố gắng mở điểm giao dịch tại các vùng, địa bàn trên toàn lãnh thổ Việt Nam, và đưa ra những chương trình sản phẩm dịch vụ, phục vụ tốt nhất cho khách hàng của mình. Hoạt động ngân hàng bao giờ cũng đặt chữ tín lên hàng đầu, hạn chế tối đa các thông tin xấu, thông tin không tốt trên các phương tiện truyền thông đại chúng ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng. Nếu một NHTM có tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ lớn, có những thông tin về việc ngân hàng có nhiều món vay không thu hồi được hoặc ngân hàng đó bị ngân hàng nhà nước đưa vào diện kiểm soát đặc biệt thì uy tín của ngân hàng đó bị giảm sút nghiêm trọng. Lúc đó sẽ không có cá nhân hay tổ chức nào muốn đặt quan hệ sử dụng dịch vụ của ngân hàng đó nữa vì họ không biết đồng vốn họ bỏ vào ngân hàng có đảm bảo an toàn và sinh lời hay không.
Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của NHTM Để có nguồn vốn đủ cấp tín dụng cho khách hàng thì ngân hàng phải huy động từ các tổ chức, dân cư hay nói cách khác là ngân hàng đi vay của tổ chức, dân cư để tài trợ tín dụng. Nếu không thu hồi được nợ xảy ra, ngân hàng sẽ hạn chế nguồn thanh toán tiền gửi cho chủ nợ của mình. Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Theo quy định của NHNN, tất cả các khoản nợ xấu ngân hàng đều phải trích lập dự phòng, tỷ lệ trích lập dự phòng tùy thuộc theo mức độ nợ xấu và tài sản bảo đảm. Điều này có nghĩa là, với các khoản nợ xấu hơn và có tài sản bảo đảm có độ rủi ro cao hơn sẽ bị trích dự phòng nhiều hơn so với các khoản nợ ít xấu hơn và tài sản bảo đảm có độ rủi ro thấp hơn.
Số tiền trích lập dự phòng được tính vào chi phí vốn của ngân hàng. Số tiền này càng lớn thì lợi nhuận của ngân hàng càng giảm. Rủi ro tín dụng dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng Như trên đã trình bày, RRTD ảnh hưởng đến uy tín, khả năng thanh khoản và lợi nhuận của ngân hàng. Nếu tình trạng này kéo dài và ăn mòn dần vốn riêng của ngân hàng thì con đường đi đến tuyên bố phá sản ngân hàng là tất yếu.
Rủi ro tín dụng gây hậu quả xấu đến nền kinh tế Phần lớn hiện nay các ngân hàng đều dùng vốn ngắn hạn để tài trợ cho nợ dài hạn. Điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng đi đòi nợ khách hàng không thể nhanh 13 bằng khách hàng đến rút tiền. Vì vậy các ngân hàng đều phải đối mặt với vấn đề rủi ro thanh khoản tức là rủi ro về sự không tương thích giữa kỳ hạn của các khoản vốn huy động và các khoản cho vay. Một khi rủi ro tín dụng xảy ra, làm ảnh hưởng đến uy tín và khả năng thanh toán của ngân hàng.
Người dân và các tổ chức kéo đến ồ ạt để rút tiền và chấm dứt quan hệ. Cũng có những trường hợp do tin đồn thất thiệt về hoạt động cũng ảnh hưởng đến nguồn vốn của ngân hàng. Những ảnh hưởng này lại mang tính dây chuyền, nếu một ngân hàng đã xảy ra mất tính thanh khoản như trên, sẽ gây ra tác động dây chuyền đến nền kinh tế như: + Khi khả năng thanh khoản của ngân hàng bị giảm sút, ngân hàng không có khả năng tiếp tục tài trợ vốn cho các pháp nhân, thể nhân và phải thu hồi vốn trước hạn. Như vậy, đối tượng được tài trợ vốn bị ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của họ.
+ Phản ứng dây chuyền đến các NHTM khác: khi niềm tin của công chúng với 1 ngân hàng bị giảm sút, họ sẽ mất dần lòng tin vào các NHTM khác từ đó gây phản ứng dây chuyền rút vốn ở các ngân hàng khác. + Phản ứng dây chuyền đến các ngành kinh tế khác: ngân hàng đổ vỡ dẫn đến nền kinh tế suy thoái, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định. Do đó, QTRRTD không những là vấn đề sống còn đối với ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội. Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng là tối đa hóa lợi nhuận sau khi đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng với mức độ rủi ro trong giới hạn cho phép.
Như vậy, khi RRTD xảy ra mà không được quản trị tốt, không xử lý được trong một khoảng thời gian hợp lý thì nợ xấu sẽ xuất hiện. Và đương nhiên, mức nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh cần phải nằm trong giới hạn cho phép mà ngân hàng có thể chịu đựng được đồng thời phải phù hợp với mức lợi nhuận mà ngân hàng thu được. Quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng Đối với hoạt động kinh doanh nói chung của các NHTM, khi rủi ro xảy ra đều dẫn đến những tác động khó lường và hậu quả của chúng tới hoạt động của ngân hàng cũng không dễ dàng khắc phục, nhiều trường hợp còn phải mất một khoảng thời gian dài để ngân hàng quay lại hoạt động bình thường.
Chính vì vậy, quản trị rủi ro (QTRR), trong đó có QTRRTD, được coi là hoạt động trọng tâm trong các tổ chức tài 14 chính, các TCTD và đặc biệt là các NHTM. Bởi vì kiểm soát và quản lý rủi ro chặt chẽ đồng nghĩa với việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, tất cả các tổ chức kinh tế nếu không chấp nhận rủi ro thì không thể tạo ra các cơ hội đầu tư mới, tìm kiếm nguồn lợi nhuận mới. Do đó, quản trị rủi ro là một nhu cầu tất yếu đặt ra trong quá trình tồn tại và phát triển của các tổ chức kinh tế nói chung và của NHTM nói riêng.
Hơn nữa, trong hoạt động của NHTM, rủi ro chủ yếu tới từ các hoạt động tín dụng, hoạt động chủ lực của ngân hàng. Vì vậy QTRRTD được xem là một công việc có ý nghĩa sống còn đối với tất cả các NHTM, dù quy mô lớn hay nhỏ, phạm vi hoạt động rộng hay hẹp. Hoạt động QTRRTD của ngân hàng gắn chặt với hoạt động cấp tín dụng, nó thể hiện sự vận dụng các nguyên tắc quản trị nói chung vào hoạt động có tính đặc thù của quá trình cấp tín dụng. Rose thì: “QTRRTD là việc các nhà quản trị bằng các nghiệp vụ của ngân hàng để hạn chế khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động tín dụng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”7.
Theo định nghĩa này, QTRRTD chính là việc các cán bộ, chuyên viên quản trị rủi ro của ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ của mình trong việc kiểm tra, giám sát các hoạt động cấp tín dụng nhằm giảm thiểu khả năng không thu hồi được nợ hoặc thu hồi không đầy đủ số nợ của khách hàng. Đây cũng là một trong những nội dung hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận ở mức rủi ro có thể chấp nhận được. Trong mọi hoạt động của đời sống xã hội nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng đều không thể tránh khỏi các rủi ro có thể xảy ra, đối với hoạt động ngân hàng thì RRTD là điều khó tránh khỏi. Do đó, mục tiêu của QTRRTD chính là việc hạn chế hoặc giảm thiểu rủi ro tới mức có thể chấp nhận được bởi triệt tiêu hoàn toàn rủi ro là điều không thể xảy ra.
Như vậy, một trong những yếu tố quan trọng trong hoạt động QTRRTD chính là việc xây dựng khẩu vị rủi ro của ngân hàng. Nghĩa là, ngân hàng cần phải xây dựng mức độ rủi ro có thể chấp nhận được trong hoạt động tín dụng của mình. Trên cơ sở đó xây dựng các cơ chế, chính sách về QTRR cho phù hợp.Rose, 2004, Commercial bank management, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, sách dịch. 15 Qua các phân tích trên đây, có thể khái quát như sau: “QTRRTD trong hoạt động tín dụng của NHTM là tổng thể các biện pháp và các chính sách tác động tới hoạt động tín dụng của NHTM nhằm ngăn ngừa, hạn chế RRTD cho NHTM tới mức có thể chấp nhận được.” Ở đây, để hoạt động QTRRTD của ngân hàng đạt được hiệu quả cao.
Ngân hàng cần xây dựng chiến lược QTRRTD của mình, trong đó có nội dung hết sức quan trọng về khẩu vị rủi ro hay nói cách khác là mức độ rủi ro có thể chấp nhận được của ngân hàng. Trên cơ sở chiến lược quản trị rủi ro đã xây dựng, ngân hàng tiếp tục xây dựng chính sách, biện pháp, các quy trình và thủ tục thực thi hoạt động QTRRTD trên cơ sở tuân thủ, nhất quán với chiến lược QTRRTD đã xây dựng trước đó.