CHƯƠNG 1: NHỮNG LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ BAO THANH TOÁN 1.1 Khái niệm, bản chất và đặc điểm của bao thanh toán: 1.1 Khái niệm, bản chất của bao thanh toán: Trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới, thuật ngữ BTT1 được áp dụng từ năm 1963, sau khi cơ quan kiểm soát tiền tệ công bố BTT là một hoạt động ngân hàng hợp pháp. Ngày nay, bên cạnh sự tồn tại của nhiều công ty chuyên cung cấp dịch vụ BTT, hầu hết các ngân hàng lớn trên thế giới đều thành lập nên một mạng lưới cung cấp dịch vụ BTT phủ rộng khắp toàn cầu. Thuật ngữ BTT được nhắc tới ở Việt Nam từ đầu những năm 90, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên, do những điều kiện về kinh tế, pháp lý chưa thích hợp, nên mãi tới năm 2004 BTT mới chính thức được áp dụng tại Việt Nam với quy chế ban hành kèm quyết định 1096/ QĐ – NHNN ngày 06/09/2004 của Ngân hàng Nhà nước.
Sau quyết định này, một số ngân hàng được cấp phép hoạt động BTT vào năm 2005. Tính đến cuối năm 2011, có 8 ngân hàng thương mại Việt Nam tham gia vào FCI với tổng doanh thu dịch vụ trong nước và quốc tế trong năm khoảng 67 triệu EUR. Về khái niệm BTT có khá nhiều cách diễn đạt khác nhau, sau đây là một số khái niệm cơ bản: Ngày nay, BTT được hiểu là việc một tổ chức tài chính mua các khoản phải thu của một công ty, mà tổ chức tài chính đó có thể là một ngân hàng hay là một công ty tài chính chuyên nghiệp. Theo từ điển kinh tế: “BTT là một sự dàn xếp tài chính, qua đó một công ty tài chính chuyên nghiệp mua lại các khoản nợ một công ty với số tiền ít hơn khoản nợ đó.
Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu được của số nợ đã mua và giá trị mua thực tế của món nợ đó.” Theo công ước về BTT quốc tế của UNIDROIT 1988, nghiệp vụ BTT được 1 Xem phụ lục số 1 4 GVHD: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Dung 2012 định nghĩa như là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng. Theo đó, tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số chức năng sau: Tài trợ bên cung ứng (gồm cho vay và ứng trước tiền), quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng. Theo FCI: “BTT là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, dịch vụ theo dõi sổ sách và thu hộ.
BTT được cung cấp theo sự thỏa thuận giữa các tổ chức BTT với người cung cấp hàng hóa, theo sự thỏa thuận này, tổ chức BTT sẽ mua lại các khoản phải thu của bên bán hàng dựa trên khả năng trả nợ của bên mua hàng, hay còn gọi là con nợ trong quan hệ tín dụng”. Theo quy chế hoạt động BTT ban hành cùng với quyết định 1096/2004/QĐ- NHNN ngày 06/09/2004 và quyết định số 30/QĐ-NHNN vào ngày 16/10/2008 bổ sung sửa đổi QĐ 1096: “BTT là hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng, thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng.” Từ những khái niệm về BTT được trình bày ở phần trên, BTT còn có thể được hiểu như sau: “BTT là một hoạt động mua lại các khoản thu nhằm tài trợ cho bên bán. Bản chất của BTT là việc cấp tín dụng cho bên bán trong ngắn hạn nhằm tăng khả năng, sản xuất kinh doanh, phòng ngừa rủi ro cho bên bán.2 Đặc điểm của bao thanh toán: BTT là sự kết hợp của việc tài trợ vốn và cung cấp dịch vụ thu nợ của tổ chức tín dụng và ngân hàng đối với bên bán hàng hóa. Bằng việc tài trợ cho khoản phải thu chưa đến hạn, các ngân hàng BTT giúp doanh nghiệp bán hàng cải thiện dòng tiền thực thu, tăng thêm vốn khả dụng.
Mặt khác, thông qua chức năng theo dõi sổ sách và cung cấp dịch vụ thu hộ, BTT tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu có thể thay thế các chi phí cố định nhằm duy trì hoạt động tốn kém và phức tạp của bộ phận thu hồi nợ quốc tế bằng chi phí hết sức linh hoạt (do tăng giảm phù hợp với doanh số bán hàng) cho dịch vụ BTT. Đây là lợi thế BTT đối với 5 GVHD: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Dung 2012 các doanh nghiệp bán hàng có mạng lưới con nợ (người mua) rộng lớn tại nhiều quốc gia khác nhau. BTT là phương thức tài trợ ở giai đoạn sau giao hàng.
Đối tượng cấp tín dụng trong BTT là các khoản nợ phải thu về hàng hóa và dịch vụ ở giai đoạn người bán đã xuất chuyển cho người mua, nhưng chưa đến hạn thanh toán. Đây là điểm khác biệt với cho vay - ứng trước vì đối tượng thường ở các giai đoạn đầu của quá trình tái sản xuất. Chính do đặc điểm này, nên mặc dù hình thái tín dụng trong BTT cũng là tiền tệ nhưng độ rủi ro được đánh giá thấp hơn các hình thức cho vay - ứng trước khác. Trong quan hệ thương mại quốc tế, BTT thường thích hợp với các phương thức thanh toán trả chậm, chẳng hạn như phương thức ghi sổ/ tài khoản mở (Open Account), phương thức thanh toán nhờ thu trả chậm (D/A – Documents against Acceptance) giữa người bán và người mua.
Mặc dù cũng phát sinh từ một giao dịch thương mại, BTT luôn gắn với một giao dịch hàng hóa cụ thể, trong khi chiết khấu thương phiếu thoát ly khỏi giao dịch cơ sở phát sinh ra thương phiếu (do tính chuyển nhượng của thương phiếu được pháp luật công nhận) nên khả năng gặp phải những thương phiếu giả có khả năng xảy ra dễ dàng hơn và việc kiểm soát của ngân hàng khó khăn hơn.2 Phân loại bao thanh toán 1.1 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ: Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, BTT gồm có 2 loại: BTT trong nước: là hình thức cấp tín dụng của một ngân hàng thương mại hay một công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng đã thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng hóa thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó, bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú trong phạm vi một quốc gia. BTT xuất nhập khẩu: là hình thức cấp tín dụng của một ngân hàng thương mại hay một công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng đã thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên bánhàng và bên mua hàng hóa thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, mà việc mua bán hàng hóa vượt qua khỏi phạm vi một quốc gia. Nguyễn Thị Uyên Uyên SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Dung 2012 1.2 Căn cứ vào tính chất có truy đòi hay không truy đòi: Căn cứ vào tính chất có truy đòi hay không truy đòi thì có 2 loại BTT như sau: BTT có quyền truy đòi là hình thức BTT mà đơn vị thực hiện BTT có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu. BTT không truy đòi: là hình thức BTT mà đơn vị thực hiện BTT chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu.
Đơn vị BTT chỉ có quyền đòi lại số tiền ứng trước cho bên bán hàng trong trường hợp bên mua hàng từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán hàng giao hàng không đúng hợp đồng hay một lý do nào khác không liên quan đến khả năng thanh toán bên mua hàng.3 Căn cứ vào phương thức bao thanh toán: Căn cứ vào phương thức BTT thì có 3 loại, gồm: Phương thức BTT từng lần: là phương thức BTT mà tương ứng với từng lần thực hiện mua bán hàng hóa giữa bên bán hàng và bên mua hàng theo những thỏa thuận trong hợp đồng mua bán, đơn vị thực hiện BTT sẽ ứng trước một số tiền tạm ứng căn cứ trên giá trị giao dịch của lần mua bán hàng hóa đó. Phương thức BTT hạn mức: là phương thức BTT mà đơn vị thực hiện BTT sẽ xem xét cấp một hạn mức BTT tối đa cho bên bán hàng. Căn cứ vào việc giao dịch mua bán hàng hóa được thực hiện giữa bên bán và bên mua mà đơn vị thực hiện BTT sẽ ứng trước một số tiền tạm ứng căn cứ trên giao dịch miễn là tổng số tiền ứng trước tại một thời điểm không được vượt quá hạn mức BTT đã cung cấp. Đồng BTT: là phương thức BTT mà các đơn vị BTT phải liên kết với nhau để thực hiện BTT cho bên bán hàng để phân tán rủi ro hoặc do số tiền ứng trước cho bên bán hàng lớn hơn tỷ lệ an toàn trên vốn điều lệ hoạt động của đơn vị BTT đó theo quy định pháp luật.4 Căn cứ vào cách thức thực hiện: Có 2 loại BTT khi căn cứ vào cách thức thực hiện: Phương thức thực hiện truyền thống (factoring): bên bán và bên mua sẽ liên 7 GVHD: TS.
Nguyễn Thị Uyên Uyên SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Dung 2012 hệ với đơn vị BTT để biết chắc rằng đơn vị BTT có mua lại các khoản phải thu cho bên bán hay không trước khi thực hiện mua bán theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán. Phương thức thực hiện phi truyền thống (reverse factoring): đơn vị BTT sẽ tiến hành xây dựng những tiêu chuẩn chung cho bên mua và bên bán đủ điều kiện thực hiện BTT tại đơn vị BTT đó. Trên cơ sở chuẩn xếp hạng, đơn vị BTT sẽ cấp hạn mức BTT cho cả bên bán và bên mua. Nếu những quan hệ giao dịch mua bán phát sinh mà bên mua và bên bán nằm trong tiêu chuẩn chung thì đơn vị này sẽ tiến hành thực hiện BTT, miễn là tổng số tiền ứng trước không được vượt quá hạn mức BTT đã được cấp cho bên mua hay bên bán.