CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ Dưới đây là một số công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về công bố thông tin tài chính trên báo cáo tài chính trong lĩnh vực ngân hàng hay phi ngân hàng. Do giới hạn về thời gian nghiên cứu nên người viết chỉ tổng hợp được một số công trình nghiên cứu tiêu biểu và dựa vào đó làm cơ sở cho luận văn của mình Người viết sẽ phân chia các công trình nghiên cứu thành hai phần chính: - Nghiên cứu chung: Bao gồm các công trình nghiên cứu về công bố thông tin tài chính ở lĩnh vực phi ngân hàng - Nghiên cứu riêng: Bao gồm các công trình nghiên cứu về công bố thông tin của các ngân hàng thương mại 1. Nghiên cứu ở các nước: 1. Nghiên cứu chung về công bố thông tin tài chính ở các lĩnh vực phi ngân hàng: Sau đây là một số nghiên cứu về công bố thông tin tài chính ở lĩnh vực phi ngân hàng của một số nước trên thế giới (Bao gồm Việt Nam).
Do giới hạn thời gian, người viết chỉ nêu lên một số nghiên cứu tiêu biểu như sau: a/ Quốc tế: Qua tìm hiểu, trong lĩnh vực quốc tế, người viết đã tổng hợp được hai nghiên cứu tiêu biểu sau: Thứ nhất là công trình nghiên cứu của Lopes và Rodrigues (2007). Thứ hai là công trình nghiên cứu của Adznan và Nelson (2014) Mục tiêu nghiên cứu của Lopes và Rodrigues (2007) và Adznan và Nelson (2014) tập trung xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính trên các báo cáo tài chính của công ty niêm yết. Cả hai tác giả đều dựa vào chuẩn mực kế toán quốc tế về quy định công bố thông tin để tổng hợp những mục cần công bố 6 thông tin liên quan và tính điểm cho các mục có công bố thông tin. Cụ thể như sau, Nghiên cứu (Lopes và Rodrigues, 2007) thì dựa vào chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 32 và IAS 39 tổng hợp thành 11 mục cần công bố.
Đối với nghiên cứu Adznan và Nelson (2014) thì dựa vào chuẩn mực kế toán MFRS7 để tổng hợp và kết quả cho thấy có 25 mục cần công bố. Thông qua việc thu thập số liệu từ các báo cáo thường niên, hai tác giả đã vận dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích hồi duy đa biến để đưa ra kết quả như sau: Đối với nghiên cứu Lopes và Rodrigues (2007) thì yếu tố Quy mô, Thuộc lĩnh vự tài chính, Loại kiểm toán và Tình trạng niêm yết có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính. Trong khi đó, Nghiên cứu Adznan và Nelson (2014) thì chỉ ra rằng yếu tố Uỷ ban kiểm toán độc lập, Kiểm toán nội bộ và Phí kiểm toán có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của Lopes và Rodrigues (2007) còn tồn tại một số hạn chế như sau: - Chưa chứng minh được hệ thống quản trị và kiểm soát xung đột có tác động đến mức độ công bố thông tin.
- Chưa chỉ ra được tác động của loại hình cấu trúc vốn tài chính từ việc đo lường của mức độ đòn bẩy và tầm quan trọng của thị trường vốn tài chính không có mối quan hệ thống kê với mức độ công bố thông tin. Công trình nghiên cứu của Adznan và Nelson (2014) gặp những mặt hạn chế như sau: - Chưa mở rộng hướng nghiên cứu sang các công ty trong lĩnh vực tài chính - Nghiên cứu chỉ dựa trên dữ liệu thứ cấp (Báo cáo thường niên) và chỉ tập trung vào các công ty tuân theo chuẩn mực kế toán MFRS b/ Việt Nam: 7 Các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính tiêu biểu có hai công trình nghiên cứu sau: - Thứ nhất là công trình nghiên cứu của Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Lan Phương (2014) - Thứ hai là công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thảo (2015) Nhìn chung, cả hai nghiên cứu nêu trên đều tập trung vào xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết. Riêng nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thảo (2015) thì tác giả tập trung vào mức độ công bố thông tin tự nguyện. Kế thừa từ các nghiên cứu trước đây trên thế giới, các tác giả dựa vào quy định công bố thông tin trong nước để tổng hợp ra các mục cần công bố thông tin.
Sau đó, tiến hành chấm điểm đối với các mục thông tin đã công bố để tính ra mức độ công bố thông tin tài chính. Dữ liệu thu thập là các báo cáo kiểm toán từ các công ty niêm yết được chọn mẫu. Sau đó, các tác giả thực hiện phương pháp thống kê mô tả cùng với phân tích mô hình hồi quy để chọn ra các nhân tố tác động. Kết quả nghiên cứu như sau: Đối với nghiên cứu của Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Lan Phương (2014) thì các yếu tố Quy mô, Tỷ lệ sở hữu cổ đông nước ngoài, Công ty kiểm toán Big4, Mức độ sinh lời và Thời gian niêm yết của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính trên báo cáo tài chính.
Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thảo (2015) thì kết quả chỉ ra rằng Quy mô, Loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài, Lợi nhuận có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này gặp một số giới hạn như sau. Đối với công trình nghiên cứu của Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Lan Phương (2014) thì chỉ tập trung vào nhóm yếu tố thuộc về sở hữu, đặc điểm quản trị, tính chất công ty mà chưa mở rộng ra các nhóm yếu tố như văn hóa, quản trị doanh nghiệp, trình độ, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của bộ máy kế toán vẫn chưa được nghiên cứu. 8 Còn công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thảo (2015) thì gặp một các hạn chế: - Nghiên cứu gặp hạn chế do hệ số tương quan chỉ ở mức 0.
Nghĩa là mức độ công bố thông tin tự nguyện chỉ được các biến trong kết quả nghiên cứu giải thích 25% và phần còn lại được giải thích bởi các yếu tố khác mà mô hình không đề cập đến. - Chưa phân tích sâu về mức độ thỏa mãn của người sử dụng báo cáo thường niên đối với các thông tin đã được công bố. Nghiên cứu riêng về công bố thông tin tài chính ở lĩnh vực ngân hàng: Do giới hạn về thời gian nghiên cứu, ở lĩnh vực ngân hàng, người viết chỉ tổng hợp hai công trình nghiên cứu có liên quan về công bố thông tin tài chính trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại. Cụ thể như sau:Thứ nhất là công trình nghiên cứu của Tadesse (2006).
Thứ hai là công trình nghiên cứu của Mamun và Kamardin (2014) Nhìn chung, hai công trình nghiên cứu trên đều tập trung vào vấn đề công bố thông tin trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu xác định mục tiêu và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Cụ thể như sau: - Công trình nghiên cứu của Tadesse (2006): Nghiên cứu này xem xét tính hiệu quả về kinh tế của quy định công bố thông tin trong lĩnh vực ngân hàng. Bên cạnh đó, nghiên cứu tập trung vào tác động của quy định công bố đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Bằng mô hình Logit đa thức, tác giả đã kiểm định mối quan hệ giữa sự minh bạch ngân hàng với sự ổn định hệ thống ngân hàng. Đồng thời, tác giả còn phối hợp sử dụng các thước đo công bố trong bảng xếp hạng của Trung tâm nghiên cứu tài chính kế toán quốc tế (CIFAR). Từ đó, nghiên cứu đã khám phá ra các nhân tố có liên quan: Mức độ công bố thông tin, Công bố thông tin, Tính kịp thời của công bố, Sự tín nhiệm của công bố, Thu thập thông tin cá nhân, Phổ biến thông tin. Tác giả tiến hành nghiên cứu về hệ thống ngân hàng trên 49 9 quốc gia trong những năm 90.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khủng hỏang ngân hàng có hệ thống thấp hơn ở các nước có yêu cầu toàn diện hơn, nhiều thông tin hơn, kịp thời hơn, đáng tin cậy hơn trong quy định về công bố thông tin. Do đó, sự công bố thông tin và kết quả minh bạch có tác động đến sự ổn định ngân hàng và có ý nghĩa kinh tế. Việc công bố thông tin càng nhiều thì sẽ càng hạn chế sự thất thoát của quốc gia. - Công trình nghiên cứu của Mamun và Kamardin (2014): Công trình nghiên cứu của Mamun và Kamardin (2014) khám phá việc công bố thông tin tự nguyện của các ngân hàng niêm yết Bangladesh.
Với cỡ mẫu được chọn là 24 ngân hàng trên tổng số 30 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán Dhaka của Bangladesh, cùng với áp dụng phương pháp nghiên cứu của Hossain & Reaz (2007), Meek et al. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ công bố thông tin tự nguyện tăng từ 69% năm 2005 lên 76% năm 2008. Mức độ công bố thông tin tự nguyện liên quan đến quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro thấp hơn so với các loại công bố thông tin khác. Ngoài ra, nghiên cứu này góp phần vào nghiên cứu kế toán và kinh tế bằng việc bổ sung kết quả thực nghiệm của việc công bố thông tin tự nguyện của lĩnh vực ngân hàng trong nền kinh tế mới nổi.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này chỉ tập trung vào các ngân hàng niêm yết mà chưa tập trung vào các ngành công nghiệp khác. Kết luận và xác định khe hổng của đề tài Việc nghiên cứu công bố thông tin tài chính bao giờ cũng là một chủ đề thu hút các nhà nghiên cứu. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên mà người viết tìm hiểu đều kế thừa và mở rộng từ những nghiên cứu trước đây về công bố thông tin tài chính trong báo cáo tài chính. Mặc dù đối tượng nghiên cứu giống nhau nhưng hướng tiếp cận lại khác nhau.
Các kết quả nghiên cứu đều mang ý nghĩa thông kê và đóng góp đáng kể vào cơ sở nghiên cứu sau này.Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên vẫn 10 còn gặp những hạn chế như chưa mở rộng nhiều sang hướng nghiên cứu sang lĩnh vực tài chính, chưa chỉ ra được mức độ đo lường đòn bẩy tài chính không có mốt quan hệ thống kê với mức độ công bố thông tin, chưa chỉ ra được hệ thống quản trị và kiểm soát có tác động đến mức độ công bố thông tin tài chính.