CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Chương này giới thiệu toàn bộ các nghiên cứu liên quan đến CLTT BCTC và các yếu tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC. Mục tiêu của chương là cung cấp những giải thích liên quan đến đề tài, tạo ra nền tảng vững chắc cho nghiên cứu phát triển từ cơ sở lý thuyết, các phương pháp và kết quả nghiên cứu trước đó. Tổng quan các nghiên cứu cũng giúp tác giả có cái nhìn toàn diện hơn về quá trình hình thành và phát triển của các hướng nghiên cứu khác, giúp tác giả xác định các hạn chế của các nghiên cứu trước đó và đưa ra hướng đi cho nghiên cứu của mình.1 Tổng quan các nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Nguyễn Bích Liên (2012) nhằm xác định và kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng tới Chất lượng Thông tin Kế toán (CLTT KT) trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu đã xem xét và lựa chọn tiêu chuẩn CLTT theo CobiT làm tiêu chuẩn CLTT kế toán trong môi trường ứng dụng ERP bao gồm 7 tiêu chuẩn sau: (1) Hữu hiệu; (2) Hiệu quả; (3) Bảo mật; (4) Toàn vẹn; (5) Sẵn sàng; (6) Tuân thủ; (7) Đáng tin cậy.
Nghiên cứu đã dùng bảng câu hỏi khảo sát để thu thập dữ liệu từ 143 đối tượng gồm các nhà tư vấn triển khai ERP, quản lý, nhân viên IT, kế toán, kiểm toán và giảng viên ERP. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 6 yếu tố ảnh hưởng đến CLTT KT trong môi trường ERP của các doanh nghiệp Việt Nam, đó là: Chính sách nhân sự và quản lý thông tin cá nhân, kinh nghiệm và phương pháp triển khai, thử nghiệm hệ thống ERP và huấn luyện nhân viên, năng lực và cam kết của ban quản lý và các nhà tư vấn triển khai, kiểm soát đảm bảo hệ thống ERP tin cậy và chất lượng phần mềm ERP. Cuối cùng, nghiên cứu đưa ra kết luận và kiến nghị cho môi trường ERP tại các doanh nghiệp Việt Nam. Mô hình nghiên cứu của tác giả được trình bày tại Hình 1.1 Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng CLTT kế toán trong môi trường ứng dụng ERP của Nguyễn Thị Bích Liên (2012) Nghiên cứu của Cao Nguyễn Lệ Thư (2014) nhằm đánh giá những yếu tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng tới Chất lượng Thông tin Kế toán (CLTT KT) trên Báo cáo Tài chính (BCTC).
Tác giả đã sử dụng mẫu gồm 119 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tại TP. Nghiên cứu đã tham khảo thang đo mô hình của Jouini Fathi (2013) để đánh giá CLTT KT dựa trên 78 chỉ số công bố thông tin. Kết quả cho thấy CLTT KT trên BCTC của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP. HCM đạt được 63/78 chỉ số (chiếm 80,8%).
Tuy nhiên, tác giả không đưa ra kết luận chung về CLTT KT trên BCTC của các công ty niêm yết trong phần thảo luận và kết luận. Trong nghiên cứu của Trần Thị Nguyệt Nga (2015), đã tiến hành đo lường CLTT của các công ty niêm yết tại Việt Nam theo quan điểm chất lượng của VAS 01, bao gồm các tiêu chí là trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh. Tác giả đã xây dựng một bảng danh sách các mục thông tin cần được công bố, để tính toán chỉ số CLTT bao gồm 59 chỉ số, dựa trên các quy định hiện hành của Hệ thống Kế toán Việt Nam. Kết quả cho thấy, CLTT trên Báo cáo Tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam vẫn còn thấp.
8 Trong nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2015), tác giả đã tiến hành nghiên cứu về tác động của quản trị công ty đến CLTT BCTC tại các công ty niêm yết tại Việt Nam. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, tiến hành khảo sát các tài liệu liên quan như Báo cáo thường niên và BCTC quý 4 của 195 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam để đo lường CLTT BCTC và các yếu tố tác động đến nó. Mô hình đánh giá chất lượng BCTC bao gồm 16 biến quan sát với 5 tiêu chuẩn là thích hợp, trình bày trung thực, có thể hiểu được, có thể so sánh và kịp thời. Kết quả nghiên cứu cho thấy, CLTT BCTC của các công ty niêm yết là dưới mức trung bình.
Nghiên cứu của Ngô Nhật Phương Diễm và cộng sự (2020) nhằm đánh giá tác động của các đặc điểm bên trong công ty đến Chất lượng Thông tin Tài chính CLTT BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Nghiên cứu đã sử dụng mẫu dữ liệu của 145 công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX thuộc 5 nhóm ngành công nghiệp (hóa chất, điện nước và xăng dầu khí đốt, vật liệu và xây dựng, hàng hóa và dịch vụ công nghiệp, thực phẩm và đồ uống) từ năm 2012 đến năm 2017 để đo lường CLTT BCTC thông qua mô hình đo lường dồn tích bất thường của Dechow và cộng sự (1995). Kết quả của hồi quy đa biến cho thấy có 6 biến đại diện đặc điểm bên trong công ty có tác động ngược chiều với dồn tích bất thường là tính độc lập của Hội đồng quản trị, quy mô Hội đồng quản trị, trình độ chuyên môn của Hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu Nhà nước, hệ số nợ, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh và biến quy mô công ty có mối tương quan cùng chiều với chất lượng BCTC. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cho thấy không có bằng chứng chứng minh mối tương quan giữa tần suất họp của Hội đồng quản trị, sự kiêm nhiệm Giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng quản trị, kinh nghiệm chuyên môn của ban kiểm soát, nữ giới trong Hội đồng quản trị.
Ngoài ra, thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả cũng đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao CLTT BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam. Mô hình nghiên cứu của tác giả được trình bày tại Hình 1.2 CLTT BCTC của các Công ty niêm yết tại Việt Nam của Ngô Nhật Phương Diễm & cộng sự (2020) Nghiên cứu của Thuần và cộng sự (2021) tập trung vào đo lường CLTT trên BCTC trong các doanh nghiệp tại Việt Nam và kiểm định mức độ tác động của kiểm toán Big 4, kiểm toán ngoài Big 4 và tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ đến CLTT BCTC. Dựa trên các thang đo của Jonas & Blanchet (2000), Ferdy van Beest và cộng sự (2009), và các đặc điểm định tính thông tin tài chính hữu ích của FASB & IASB 2018, nghiên cứu đã xây dựng thang đo và gán trọng số cho các đặc tính khi đo lường CLTT BCTC thông qua phương pháp khảo sát mẫu nghiên cứu gôm 261 doanh nghiệp có trụ sở chính ở Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng. Nghiên cứu cho thấy CLTT BCTC trung bình trong các doanh nghiệp tại Việt Nam là 3,418/5 điểm.
Mô hình hồi quy cũng cho thấy rằng các yếu tố độc lập như kiểm toán Big 4, kiểm toán 10 ngoài Big 4 và tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ đều ảnh hưởng đến CLTT BCTC. Kết quả phân tích hệ số Beta cũng chỉ ra rằng BCTC của các doanh nghiệp được kiểm toán có chất lượng cao hơn so với BCTC của các doanh nghiệp chưa được kiểm toán, và BCTC của các doanh nghiệp được kiểm toán bởi Big 4 được đánh giá có chất lượng cao hơn so với BCTC được kiểm toán bởi ngoài Big 4. Mô hình nghiên cứu của tác giả được trình bày tại Hình 1.3 CLTT BCTC trong các doanh nghiệp tại Việt Nam của Thuần & cộng sự (2021) 1.2 Nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Hongjiang Xu và cộng sự (2003) tập trung vào tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến CLTT KT được công bố trên Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp tại Australia, dựa trên các thuộc tính Chính xác, Kịp thời, Đầy đủ và Nhất quán của CLTT KT trên BCTC. Bằng cách tham khảo cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đó trong lĩnh vực thông tin quản lý, nhóm nghiên cứu đã xác định các nhân tố tác động đến CLTT và phân loại chúng vào 4 nhóm chính là Con người, Hệ thống, Tổ chức và nhân tố Bên ngoài, đưa vào mô hình nghiên cứu.
Tiếp theo, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống để tiến hành nghiên cứu định tính, thông qua thảo luận tay đôi với các đối tượng tham gia bao gồm: đối tượng sản xuất thông tin kế toán, đối tượng quản lý hệ thống, đối tượng sử dụng thông tin và quản lý cấp cao cơ sở dữ liệu về vai trò của các nhóm nhân tố đối với CLTT. Nghiên cứu được thực hiện trên 4 doanh nghiệp tại Australia. Sau đó, tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê và miêu tả để so sánh dữ liệu của các tình huống với nhau, phân tích những điểm tương đồng và khác biệt từ các dữ liệu thu thập 11 được. Kết quả phân tích từ nghiên cứu định tính cho thấy rằng nhóm nhân tố liên quan đến Con người, Hệ thống và Tổ chức được xem là có tác động đến CLTT được công bố trên BCTC của các doanh nghiệp.
Mô hình nghiên cứu của được trình bày tại Hình 1.4 Các nhân tố tác động đến CLTT KT trên BCTC của Hongjiong Xu & ctg (2003) Nghiên cứu của N. Rahmatika (2014) tập trung vào việc đánh giá tác động của năng lực bộ máy và kiểm soát nội bộ đến chất lượng BCTC và tác động của nó đến quản trị tốt của chính phủ. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là nghiên cứu giải thích, bởi vì nó nhằm mục đích giải thích mối quan hệ nhân quả giữa các biến (Cooper và Schindler, 2006: 154). Đơn vị phân tích trong nghiên cứu này là 70 khu vực các đơn vị công tác tại 7 Chính quyền địa phương thuộc Karesidenan Pekalongan, Indonesia.
Người trả lời là người địa phương, Lãnh đạo Đơn vị Chính phủ, và Thủ quỹ của từng phần về giáo dục. Để xử lý dữ liệu bằng mô hình phương trình cấu trúc (SEM), chúng ta cần thực hiện việc chuyển đổi dữ liệu ban đầu thành dạng thang đo thứ tự thông qua phương pháp khoảng thời gian thành công. Sau đó, chúng ta có thể sử dụng mô hình phương trình cấu trúc với phương sai dựa trên thành phần hoặc phương pháp thay thế bình phương nhỏ nhất từng phần để tiến hành xử lý dữ liệu. Từ kết quả thử nghiệm thu được giá trị xác suất 0,530 12 đối với năng lực của thiết bị, 0,377 đối với kiểm soát nội bộ, 0,527 đối với chất lượng BCTC và 0,871 đối với việc thực hiện Quản trị tốt của Chính phủ.