Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu - Trình bày lý do chọn đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tình hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu – Trình bày cơ sở lý thuyết nền tảng của một số yếu tố ảnh hưởng môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư và mối quan hệ giữa các khái niệm này. Xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Trình bày quy trình nghiên cứu, xây dựng và kiểm định các thang đo nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Trình bày kết quả về mẫu khảo sát, kết quả kiểm định mô hình và đo lường, phân tích đánh giá kết quả. Chương 5: Kết luận và kiến nghị – Tóm tắt kết quả nghiên cứu và đề xuất các hàm ý. Những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo.
7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.Một số khái niệm 2. Khái niệm môi trường đầu tư Khái niệm môi trường đầu tư đã được thảo luận trong nhiều nghiên cứu và thuật ngữ “đầu tư môi trường” đã được đặt ra gần đây. Đó là một thuật ngữ mới nổi và không có sự đồng thuận chung về phạm vi của môi truờng đầu tư. Chính vì vậy, việc tìm ra một khái niệm có tính phổ quát, đại diện chung cho mọi tình huống là rất khó khả thi.
Tuy nhiên, nhìn chung thì có ba góc độ tiếp cận về môi trường đầu tư như sau: Ở góc độ thứ nhất, các khái niệm nhấn mạnh quá trình quản lý và mục tiêu của các cấp chính quyền. Với mục tiêu thu hút nguồn vốn đầu tư, trong vai trò là chủ thể tiếp nhận đầu tư, các cấp chính quyền ban hành các chính sách nhằm điều chỉnh, cải thiện làm cho môi trường đầu tư trở lên hấp dẫn hơn. Nổi bật trong quan điểm này, Enoma và cộng sự (2010) quan niệm môi trường đầu tư là các yếu tố có khả năng làm thay đổi số lượng, chất lượng dòng vốn đầu tư tại một quốc gia. Theo đó, chính quyền cần tạo ra các điều kiện nhằm tăng cường lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư và và làm giảm sự không chắc chắn xung quanh lợi nhuận mong đợi đó.
Các vấn đề cần cải thiện chính bao gồm: 1) Các vấn đề vĩ mô của một quốc gia như sự ổn định kinh tế, chính trị; 2) Các vấn đề về hiệu quả của các khuôn khổ pháp lý của một quốc gia; 3) Chất lượng và sự sẵn có cơ sở hạ tầng vật lý và tài chính, chẳng hạn như điện, giao thông, viễn thông và ngân hàng. Nhìn chung các nghiên cứu theo cách tiếp cận này nhấn mạnh khả năng chính quyền có thể chủ động cải thiện môi trường đầu tư nhằm lôi kéo các nhà đầu tư ở bất cứ đâu, tạo nguồn vốn để phát triển kinh tế. Ở một góc độ khác, các nghiên cứu lại nhấn mạnh vào hành vi, động cơ của nhà đầu tư. Chẳng hạn như Dunning (1973) lại chú trọng vào việc các doanh nghiệp sẽ cân nhắc các yếu tố tại nơi đầu tư tiềm năng có khả năng tác động tới sự thành công của một công cuộc đầu tư.
Môi trường đầu tư khi đó sẽ đóng vai trò cung cấp những lợi thế cho tiến trình thực hiện và vận hành các khoản đầu tư, chẳng hạn như chi phí tài nguyên, quy mô của thị trường, các rào cản thương mại… Tương tự là các khái niệm của Ngân hàng Thế giới, môi trường đầu tư được cho là tập hợp nhiều yếu tố cụ thể hình thành nên các cơ hội và động cơ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư và đạt được hiệu quả cao. Như vậy, theo cách tiếp cận các nhà đầu tư được coi là những người chủ động trong 8 cuộc chơi, chủ động trong việc xem xét, đánh giá và lựa chọn địa điểm đầu tư tối ưu nhằm chiếm lĩnh cơ hội và thực hiện đầu tư một cách hiệu quả. Ngoài ra, cũng có nghiên cứu môi trường đầu tư được tiếp cận trên cả góc độ của chủ thể tiếp nhận và chủ thể thực hiện đầu tư. Theo cách hiểu của Đỗ Hải Hồ (2011), môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố có ảnh hưởng đến công cuộc kinh doanh của nhà các đầu tư và phát triển kinh tế xã hội tại nơi tiếp nhận đầu tư như chính trị, chính sách, địa lý, tự nhiên dân số và cơ sở hạ tầng do trình độ của nền kinh tế quy định.
Từ ba góc độ tiếp cận nói trên, có thể thấy rằng dù theo cách nào thì khái niệm về môi trường đầu tư vẫn hội tụ một số điểm chung nhất định, cụ thể là: (i) môi trường đầu tư là sự tổng hòa của rất nhiều yếu tố về chính trị, kinh tế, xã hội tại một địa điểm cụ thể, là nơi đầu tư tiềm năng hoặc nơi mà hoạt động đầu tư đang được thực hiện. (ii) Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư phải có ý nghĩa nhất định để tạo ra lợi thế cho tiến trình triển khai, vận hành hoạt động đầu tư, có thể ảnh hưởng đến lợi ích, lợi nhuận cho nhà đầu tư. (iii) môi trường đầu tư luôn gắn với với việc thu hút nguồn vốn và thúc đẩy đầu tư. Trên góc độ nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp, doanh nghiệp đóng vai trò là hạt nhân trong mối quan hệ quyền – môi trường đầu tư – Doanh nghiệp.
Do đó, cách tiếp cận môi trường đầu tư đứng trên góc độ nhìn nhận của doanh nghiệp là phù hợp hơn cả. Trong trường hợp này, để thấy rõ được tầm quan trọng của môi trường đầu tư, các dự kiến đầu tư của các doanh nghiệp được giả định là phù hợp với tình hình nội bộ của họ như về năng lực, chiến lược. khi đó việc quyết định đầu tư sẽ phụ thuộc vào môi trường đầu tư tại địa điểm đầu tư dự kiến. Nghĩa là, môi trường đầu tư sẽ bao gồm các yếu tố được hình thành tại một địa điểm cụ thể mà doanh nghiệp đang hoặc dự kiến sẽ đầu tư, nó không bao gồm các yếu tố thuộc về nội bộ doanh nghiệp hay nhà đầu tư.
Tùy vào cảm nhận, đánh giá của doanh nghiệp, họ sẽ có những quyết định về hoạt động đầu tư của mình chẳng hạn như có đầu tư hay không, đầu tư ở đâu, quy mô đầu tư như thế nào? Do vậy, quyết định đầu tư sẽ được khái niệm như sau: “quyết định đầu tư là tổng hòa các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, tại nơi doanh nghiệp đang hoạt động hoặc dự kiến sẽ đầu tư, có thể tạo ra lợi thế hoặc khó khăn cho tiến trình thực hiện và vận hành hoạt động đầu tư và do đó, nó sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp”. Đầu tư phát triển 9 Khái niệm về đầu tư nhìn chung không có sự khác biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ hay doanh nghiệp lớn. Theo Đinh Phi Hổ (2011) Yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, trong sách Phương pháp nghiên cứu định lượng và những nghiên cứu thực tiễn trong kinh tế phát triển - nông nghiệp, NXB Phương Đông. Hoạt động này luôn giữ một vai trò rất quan trọng ở cả góc độ vĩ mô và vi mô.
Ở góc độ vĩ mô, đầu tư của doanh nghiệp chính là động lực và nguồn gốc duy trì các hoạt động kinh tế, tạo ra sự tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội của các quốc gia (Zarnowitz, 1992). Trên phương diện vi mô, đầu tư là cách thức các doanh nghiệp triển khai các chiến lược tăng trưởng và phát triển. Hoạt động đầu tư được phân chia theo nhiều loại khác nhau, tùy theo mỗi tiêu thức, nghiên cứu này tập trung vào đầu tư phát triển, một dạng thức trong đầu tư trực tiếp. Quá trình ra quyết định đầu tư Một số lý thuyết cho thấy việc ra quyết định đầu tư xuất phát từ những động cơ khác nhau và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan.
Trong nỗ lực nhận thức về các yếu tố đóng vai trò thúc đẩy đầu tư của doanh nghiệp, nhiều nghiên cứu về môi trường đầu tư cũng đã xuất phát từ các lý thuyết này. Lý thuyết chiết trung: Mô hình chiết trung là một lý thuyết trong kinh tế học và còn được gọi là Mô hình OLI hoặc Khung OLI. Đây là sự phát triển thêm của lý thuyết nội bộ hóa và được xuất bản bởi John H. Lợi thế nội bộ hóa các công ty có thể tổ chức việc tạo ra và khai thác các năng lực cốt lõi của họ (Dunning, 1996) được nhiều nghiên cứu sử dụng như một lý thuyết nền tảng cho các nghiên cứu thực nghiệm về việc ra quyết định đầu tư, cung cấp khái niệm chung cũng như định h́ nh các yếu tố giải thích lư do quyết định đầu tư của các doanh nghiệp.
Lợi thế quyền sở hữu: Dunning (1996) xác định hai loại lợi thế sở hữu chính gồm lợi thế tài sản và lợi thế chi phí giao dịch. Những lợi thế tài sản của doanh nghiệp có thể xuất phát từ việc sở hữu tài sản vô hình như: Kinh nghiệm thị trường; trình độ quản lý, các bằng sáng chế; thương hiệu hàng hóa; chất lượng lao động và quy mô của hãng. Những lợi thế giao dịch là ưu thế của doanh nghiệp xuất phát từ năng lực tổ chức, doanh nghiệp nắm giữ ưu thế tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp, chiếm ưu thế trong tiếp cận thị trường hoặc nguyên vật liệu, hàng hoá trung gian. Hoạt động nhằm định ra mục tiêu, chương trình và tính chất hoạt động cho doanh nghiệp chính là các quyết định quản trị, đó là công việc của các nhà quản trị trong quá 10 trình điều hành doanh nghiệp.
Trong đó, vốn đầu tư có thể bao gồm các tài sản thực ở những hình thái khác nhau nhưng đều có thể xác định giá trị bằng tiền, từ nhà các công trình nhà xưởng đến máy móc, nguyên liệu,. Như vậy, quyết định đầu tư có liên quan đến việc trả lời câu hỏi việc gia tăng tài sản vốn ngày hôm nay có làm gia tăng lợi nhuận trong tương lai hay không. Nói cách khác, quyết định đầu tư chính là cam kết về các nguồn tiền vào các thời điểm khác nhau với kỳ vọng lợi ích lớn hơn trong trong tương lai. Do đó, quyết định đầu tư cũng được hiểu là một dạng quyết định về tài chính và nó kéo theo sự thay đổi về vốn đầu tư của doanh nghiệp.