chương 1, nghiên cứu đã trình bày tổng thể chung một số đề tài nghiên cứu trong nước và ngoài nước nghiên cứu về chất lượng BCTC và các nhân tố tác động đến chất lượng BCTC. Thông qua nghiên cứu tổng quan các nghiên cứu liên quan, luận văn đã tìm ra khe hổng nghiên cứu để làm cơ sở cho nghiên cứu của luận văn. Đồng thời, luận văn kế thừa và phát huy các nhân tố bên ngoài công ty và bên trong công ty của các đề tài trên để tìm ra các nhân tố tác động đến chất lượng BCTC. Tổng quan doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.
Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa Các nước trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về DNNVV, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là dựa trên tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, trong các tiêu thức phân loại đó có hai tiêu thức chính được sử dụng ở phần lớn các nước là quy mô nguồn vốn đăng ký kinh doanh và số lượng lao động. Ở Việt Nam, tiêu chí xác định DNNVV được thể hiện tại điều 4, Luật số 04/2007/QH14 về hỗ trợ DNNVV được Quốc hội ban hành ngày 12 tháng 06 năm 2017. Theo quy định này, DNNVV được xác định như sau: DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng.
Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, doanh nghiệp có quy mô lớn được ưu tiên phát triển do các nguyên nhân như: doanh nghiệp có quy mô lớn có vị trí quan trọng trong nền kinh tế; doanh nghiệp lớn được ưu đãi về vốn, vật tư, thiết bị; doanh nghiệp lớn có mức lương cao hơn so với các DNNVV. Nhưng từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa lại chiếm ưu thế với số lượng chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp này có những đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, các DNNVV chiếm phần lớn trong tổng số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Xét theo quy mô lao động, tại thời điểm 01/01/2017, theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, doanh nghiệp vừa tăng 14 23,6%, doanh nghiệp nhỏ tăng 21,2% và doanh nghiệp siêu nhỏ tăng tới 65,5% và chiếm 74% tổng số doanh nghiệp. Thứ hai, DNNVV có quy mô vốn nhỏ, gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Điều này là một cản trở không nhỏ trong việc triển khai, áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và thương mại. Thứ ba, DNNVV không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn chịu áp lực từ các công ty, các tập đoàn lớn với việc thành lập các chi nhánh, các công ty con ở các tỉnh thành và quốc gia.
Họ có nhiều lợi thế hơn về thương hiệu và nguồn vốn. Vì vậy, các DNNVV phải tìm ra những phương thức, công cụ mới trong hoạt động kinh doanh. Thứ tư, đa số các DNNVV là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Theo Tổng cục Thống kê (2017) trong cơ cấu ngành nghề, số lượng các doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng chủ yếu với 51%, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 19,5% và dịch vụ chiếm 29,5%. Thứ năm, với nguồn vốn nhỏ hẹp, các DNNVV thường tập trung vào các ngành hàng gần gũi với người tiêu dùng hơn là đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng.
DNNVV thực hiện các nghiệp vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như các dịch vụ trong quá trình sản xuất, phân phối và thương mại hóa, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ. Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ. Có thể nói, tính linh hoạt là đặc tính nổi trội của các DNNVV, nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là thế mạnh của các DNNVV. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, DNNVV hiện đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế ở nước ta, tạo ra nhiều việc làm, giúp duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp, huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội.
Ngoài ra, trong quá trình vận hành, các DNNVV đã tạo ra một đội ngũ doanh 15 nhân và công nhân với kiến thức và tay nghề ngày càng được nâng cao và hoàn thiện. Thứ hai, DNNVV giữ vai trò ổn định nền kinh tế. Trong những năm qua, các DNNVV đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân và đóng góp ngày càng nhiều cho NSNN. Đa số doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là DNNVV, các doanh nghiệp này đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế, DNNVV đã và đang trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.
Thứ ba, các DNNVV góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường, do lợi thế về quy mô nhỏ và vừa là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hóa và đa dạng hóa, hòa nhập được với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường. Thứ tư, DNNVV góp phần tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng, là các doanh nghiệp vệ tinh cung cấp các sản phẩm đầu vào, chế biến các bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn hoặc hỗ trợ các doanh nghiệp lớn trong việc tiếp cận thị trường với tư cách tham gia vào phân phối các sản phẩm đầu ra. Thứ năm, các DNNVV có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy và tận dụng cao các nguồn lực ở các địa phương, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của địa phương, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại, dịch vụ phát triển, làm thu hẹp dần khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn, góp phần giảm bớt chênh lệch thu nhập trong xã hội, từng bước tạo ra công bằng xã hội theo đúng nghĩa thực và theo phương thức tự điều chỉnh. Như vậy, các DNNVV có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp chung vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Chính vì vậy, sự tồn tại và phát triển của các DNNVV là thực sự cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.2 Báo cáo tài chính 2.1 Khái niệm báo cáo tài chính Theo CMKT Việt Nam số 21 (VAS 21) (ban hành và công bố theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính) thì “báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp. Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế”. Đối tượng sử dụng báo cáo tài chính: Việc nghiên cứu về báo cáo tài chính trước hết cần xuất phát từ quan điểm BCTC được lập cho ai. Trả lời được câu hỏi này sẽ xác định được mục đích của BCTC và nội dung BCTC cần có.
Nghiên cứu của Cyert et al. xem xét ba đối tượng chính liên quan đến BCTC: - Doanh nghiệp, người lập ra báo cáo tài chính. - Các chuyên gia kiểm toán, người kiểm tra và xác nhận BCTC. - Người sử dụng, bao gồm các đối tượng khác nhau sử dụng BCTC như nhà đầu tư, chủ nợ, nhà phân tích… Nghiên cứu của Cyert et al (1974) đề xuất lấy người sử dụng làm trung tâm của quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính.
Quan điểm này phù hợp với các xu hướng lập quy xuất phát từ lợi ích xã hội. Tuy nhiên, BCTC được sử dụng bởi các đối tượng rộng rãi cho những mục đích khác nhau. Có thể chia thành 2 nhóm chính như sau: Các đối tượng sử dụng trực tiếp, bao gồm: Chủ sở hữu/Cổ đông, Chủ nợ/Nhà cung cấp, Người quản lý, Cơ quan thuế, Người lao động, Khách hàng. Các đối tượng sử dụng sử dụng gián tiếp, bao gồm: Nhà phân tích/tư vấn, Thị trường chứng khoán, Cơ quan quản lý nhà nước, Tạp chí tài chính, Hiệp hội kinh doanh, Liên đoàn lao động, Đối thủ cạnh tranh, Công chúng… 17 2.3 Mục đích của báo cáo tài chính Tại điều 97 “Mục đích của báo cáo tài chính” theo thông tư 200/2014/TT- BTC hướng dẫn kế toán doanh nghiệp quy định: “Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế.
Báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về: a) Tài sản; b) Nợ phải trả; c) Vốn chủ sở hữu; d) Doanh thu, thu nhập khác, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác; đ) Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh; e) Các luồng tiền. Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin khác trong “Bản thuyết minh Báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trên các Báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày Báo cáo tài chính”. Hệ thống báo cáo tài chính (BCTC) Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện nay (VAS 21), hệ thống BCTC gồm có bốn BCTC, cụ thể như sau: a) Bảng cân đối kế toán (BCĐKT): Theo VAS 21, BCĐKT trình bày thông tin về toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định (cuối tháng, cuối quý, cuối năm và thường được gọi là báo cáo có tính chất thời điểm).