phần mở đầu, các bảng, biểu, phụ lục, đề tài bao gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu trƣớc về các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ công bố thông tin Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 5: Kết luận nghiên cứu và gợi ý chính sách 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 1. Các nghiên cứu nƣớc ngoài Trên thế giới, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về mức độ CBTT và các nhân tố tác động đến mức độ CBTT. Nghiên cứu của Stephen Owusu-Ansah (1998): “The impact of corporate attributes on the extent of mandatory disclosure and reporting by listed companies in Zimbabwe” Nghiên cứu tìm hiểu về mức độ ảnh hƣởng của các thuộc tính công ty đến mức độ công bố thông tin bắt buộc của các công ty niêm yết tại Zimbabwe.
Tác giả sử dụng mô hình hồi quy, phân tích tác động của 8 nhân tố bao gồm: quy mô công ty, chất lƣợng của kiểm toán bên ngoài, cấu trúc chủ sở hữu, loại hình ngành nghề, độ tuổi công ty, liên kết đa quốc gia, khả năng sinh lời và tính thanh khoản đến mức độ CBTT bắt buộc. Tác giả lựa chọn mẫu nghiên cứu là các công ty phi tài chính có cổ phiếu đƣợc niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Zimbabwe (ZSE) ít nhất một năm. Theo điều kiện này, có 49 công ty đƣợc lựa chọn, đại diện cho khoảng 86% các công ty phi tài chính niêm yết trên ZSE. Dữ liệu nghiên cứu đƣợc thu thập trên BCTN năm 1994.
Chỉ số CBTT đƣợc tính theo phƣơng pháp chỉ số không trọng số dựa trên một danh mục công bố đƣợc tác giả xây dựng gồm 214 mục thông tin. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy quy mô công ty, cấu trúc chủ sở hữu, độ tuổi công ty, liên kết đa quốc gia và khả năng sinh lời có ảnh hƣởng tích cực đến mức độ CBTT bắt buộc. Chất lƣợng của kiểm toán bên ngoài, loại hình ngành nghề và tính thanh khoản không có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu của Street & Gray (2002): “Factors influencing the extent of corporate compliance with International Accounting Standards: summary of a research monograph” 5 Nội dung của bài nghiên cứu là xem xét báo cáo tài chính của một mẫu các công ty trên thế giới để đánh giá mức độ tuân thủ Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và tìm hiểu các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ tuân thủ IAS.
Mẫu nghiên cứu là 279 công ty có đề cập đến việc sử dụng IAS của họ, các công ty này thuộc nhiều quốc gia khác nhau. Tác giả đƣa ra mô hình nghiên cứu gồm 11 biến độc lập và 2 biến phụ thuộc. Các biến độc lập gồm: tình trạng niêm yết, quy mô công ty, khả năng sinh lời, loại hình ngành nghề, cách thức mà công ty tham khảo IAS trong chú thích về chính sách kế toán, chủ thể kiểm toán, loại chuẩn mực kế toán mà công ty sử dụng đƣợc nêu trong báo cáo kiểm toán, loại chuẩn mực kiểm toán đƣợc trình bày trong báo cáo kiểm toán, quốc tịch, mức độ đa quốc gia, quy mô của thị trƣờng chứng khoán. Biến phụ thuộc là chỉ số CBTT theo IAS, chỉ số này đƣợc đo lƣờng theo 2 cách.
Cách thứ nhất (biến phụ thuộc thứ nhất- DIS 1), đo lƣờng chỉ số CBTT theo từng IAS, sau đó tính chỉ số CBTT tổng thể bằng cách cho mỗi IAS có trọng số bằng nhau. Cách thứ 2 (biến phụ thuộc thứ hai- DIS 2), đo lƣờng chỉ số CBTT tổng thể theo danh mục CBTT của tất cả các IAS, mỗi mục có trọng số bằng nhau. Nghiên cứu chỉ ra rằng tình trạng niêm yết, chủ thể kiểm toán, cách thức mà công ty tham khảo IAS trong chú thích về chính sách kế toán và quốc tịch có tác động đáng kể đến mức độ CBTT theo IAS. Bài nghiên cứu đƣợc thực hiện theo phƣơng pháp định lƣợng: thống kê mô tả, hồi quy từng bƣớc, phân tích tƣơng quan.
Nghiên cứu của Jeffrey J. Archambault và Marie E. Archambault (2003): “A multinational test of determinants of corporate disclosure” Trong bài nghiên cứu này, vấn đề mức độ CBTT đã đƣợc hai tác giả Jeffrey J. Archambault và Marie E.
Archambault nghiên cứu ở một phạm vi rộng hơn và xem xét nhiều yếu tố hơn. Dữ liệu nghiên cứu đƣợc thu thập từ báo cáo thƣờng niên của 1.000 công ty công nghiệp hàng đầu ở 41 quốc gia. Nhóm tác giả đã đƣa ra mô hình gồm 5 giả thuyết: Văn hóa quốc gia, hệ thống chính trị quốc gia, hệ thống kinh tế quốc gia, hệ thống tài chính doanh nghiệp, hệ thống hoạt động doanh nghiệp có ảnh hƣởng đến mức độ CBTT. Bài nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp 6 phân tích hồi quy.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mỗi hệ thống đều có tác động đáng kể đến mức độ CBTT. Xét riêng các yếu tố thuộc doanh nghiệp, có 3 yếu tố thuộc hệ thống tài chính đó là: Sàn giao dịch niêm yết, cổ tức, chủ thể kiểm toán và 2 yếu tố thuộc hệ thống hoạt động bao gồm ngành nghề kinh doanh và doanh thu xuất khẩu tác động cùng chiều đến mức độ CBTT của doanh nghiệp.Từ đó, nhóm tác giả đã kết luận rằng việc CBTT là một quá trình phức tạp ảnh hƣởng bởi tập hợp nhiều nhân tố. Nghiên cứu của Cheung và cộng sự (2005): “Determinants of Corporate Disclosure and Transparency: Evidence from Hong Kong and Thailand” Nhóm tác giả thực hiện bài nghiên cứu với mục tiêu là tìm hiểu các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT ở 2 quốc gia châu Á là Hồng Kông và Thái Lan. Bài nghiên cứu chia các yếu tố thành 2 nhóm, nhóm thuộc đặc điểm tài chính và nhóm thuộc đặc điểm quản trị công ty.
Nhóm thuộc đặc điểm tài chính bao gồm 5 yếu tố: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, kết quả tài chính, tài sản đảm bảo và hiệu quả sử dụng tài sản. Nhóm thuộc đặc điểm quản trị gồm: mức độ tập trung quyền sở hữu, cơ cấu của HĐQT và quy mô của HĐQT. Dữ liệu đƣợc thu thập từ báo cáo tài chính năm 2002 của 265 công ty Thái Lan và 148 công ty Hồng Kông niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán của mỗi quốc gia tƣơng ứng. Chỉ số CBTT đƣợc xây dựng từ một công cụ điều tra đƣợc thiết kế để đánh giá mức độ CBTT của các công ty niêm yết bằng cách sử dụng Nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).
Mức độ CBTT đƣợc nhóm tác giả xem xét cả mặt số lƣợng và chất lƣợng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính minh bạch và mức độ CBTT của các công ty Thái Lan thì cao hơn so với các công ty ở Hồng Kông. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một vài biến thuộc đặc điểm tài chính nhƣ: quy mô công ty, tài sản đảm bảo, hiệu quả sử dụng tài sản có ảnh hƣởng đáng kể đến tính minh bạch và mức độ CBTT của các CTNY ở Hồng Kông. Trong khi đó, ở Thái Lan các yếu tố này dƣờng nhƣ không có tác động.
Đối với nhóm các yếu tố thuộc đặc điểm quản trị công ty, chỉ có biến tỷ lệ các giám đốc điều hành không phải là thành viên của HĐQT (trong biến cơ cấu của HĐQT) là có tác động đến 7 tính minh bạch và mức độ CBTT của các CTNY ở Hồng Kông. Tuy nhiên, tại Thái Lan, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô HĐQT và cơ cấu HĐQT có ảnh hƣởng đáng kể đến mức độ CBTT của các CTNY tại quốc gia này. Tóm lại, sự minh bạch thông tin và các nhân tố ảnh hƣởng đến sự minh bạch thông tin ở 2 quốc gia này có sự khác biệt khá rõ rệt. Trong khi ở Hồng Kông, các nhân tố ảnh hƣởng đến sự minh bạch thông tin chủ yếu là các nhân tố thuộc đặc điểm tài chính thì ở Thái Lan các nhân tố này chủ yếu thuộc về đặc điểm quản trị.
Nghiên cứu của Huang và cộng sự (2011): “Impact of Information Disclosure and Transparency Rankings System (IDTRS) on Investors in Taiwan” Nghiên cứu này tập trung vào 2 mục tiêu. Thứ nhất, đánh giá tác động của Hệ thống xếp hạng minh bạch thông tin (IDTRS) đến mức độ CBTT trên thị trƣờng chứng khoán Đài Loan. Để thực hiện mục tiêu này nhóm tác giả sử dụng phƣơng pháp phân tích sự kiện, phân tích hồi quy tuyến tính với mẫu là 611 CTNY đƣợc xếp hạng minh bạch thông tin năm 2003. Nghiên cứu cho thấy kết quả xếp hạng của IDTRS có ảnh hƣởng đến thị trƣờng chứng khoán khi có một sự kiện quan trọng xảy ra.
Mục tiêu thứ hai là xác định mối quan hệ giữa thuộc tính công ty và mức độ CBTT. Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình Logit nhị phân, kiểm định T-test dựa trên 1028 quan sát các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Đài Loan đƣợc xếp hạng trong vòng 2 năm 2003-2004. Kết quả chỉ ra rằng chi phí sử dụng vốn, quản trị doanh nghiệp và quy mô công ty có tác động cùng chiều với mức độ CBTT nhƣng tỷ suất sinh lợi (ROE) và rủi ro tín dụng có mối quan hệ nghịch chiều với mức độ CBTT. Nghiên cứu của Popova và cộng sự (2013): “Mandatory Disclosure and Its Impact on the Company Value” Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa mức độ CBTT bắt buộc và giá trị của công ty thể hiện bằng mức giá cổ phiếu đƣợc đo lƣờng dựa trên thu nhập dự kiến.
Đồng thời, nghiên cứu cũng tìm hiểu về tác động của một số đặc điểm công ty nhƣ khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, độ tuổi công ty, quy mô công ty, tình trạng niêm yết đến mức độ CBTT bắt buộc. Mức độ 8 CBTT đƣợc tính theo phƣơng pháp chỉ số CBTT không trọng lƣợng, danh mục công bố đƣợc xây dựng theo IFRS. Mẫu nghiên cứu là 20 công ty đƣợc lựa chọn ngẫu nhiên từ 350 công ty có chỉ số vốn hóa lớn nhất trên thị trƣờng chứng khoán London có BCTC từ năm 2006 đến năm 2010. Nhóm tác giả sử dụng phƣơng pháp định lƣợng.
Kết quả nghiên cứu cho rằng giá trị của công ty, đòn bẩy và độ tuổi có ảnh hƣởng tích cực đến mức độ CBTT bắt buộc. Các yếu tố khả năng sinh lời, quy mô công ty, tình trạng niêm yết không có ảnh hƣởng. Nghiên cứu của Yang Lan và cộng sự (2013): “Determinants and features of voluntary disclosure in the Chinese stock market” Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung tìm hiểu về các yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT tự nguyện của các công ty tại Trung Quốc.