Chương 1: Lý luận chung về kế toán quản trị, Thông tin kế toán quản trị và Quyết định ngắn hạn 2 Lô©n v¨n th¹c sü Tr-êng §¹i häc BK -HN - Chương 2: Thực trạng quá trình cung cấp thông tin Kế toán quản trị trong việc ra quyết định ngắn hạn tại Viễn thông Nam Định. - Chương 3: Các giải pháp cơ bản để hoàn thiện thông tin Kế toán quản trị cho việc ra quyết định kinh doanh tại Viễn thông Nam Định. Do thời gian nghiên cứu có giới hạn nên đề tài nghiên cứu này chắc hẳn có nhiều thiếu sót và hạn chế. Để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn và có tính thực tế cao hơn, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của Quý Thầy Cô; Viễn thông Nam Định - đối tượng nghiên cứu sử dụng đề tài; các bạn và tất cả những ai quan tâm đến lĩnh vực này.
Xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 02 năm 2013 3 Lô©n v¨n th¹c sü Tr-êng §¹i häc BK -HN CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ, THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN I. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Khái niệm, vai trò và nhiệm vụ của kế toán quản trị 1.1 Khái niệm kế toán quản trị Muốn hiểu về khái niệm kế toán quản trị, trước hết phải hiểu kế toán là gì? Có rất nhiều các khái niệm về kế toán, tuy nhiên theo luật kế toán Việt nam thì: Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Cũng theo Luật kế toán Việt nam, kế toán quản trị được định nghĩa là “Việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” (Luật kế toán, khoản 3, điều 4).
Ta có thể đi đến kết luận: “Kế toán quản trị là một công cụ chuyên ngành kế toán nhằm thực hiện quá trình nhận diện, đo lường, phân tích, tổng hợp và truyền đạt các thông tin hữu ích, giúp cho quản trị doanh nghiệp thực hiện tốt các chức năng lập kế hoạch, kiểm tra, đánh giá và ra các quyết định trong quản lý”. - Nhận diện: là sự ghi nhận và đánh giá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhằm có hành động kế toán thích hợp. - Đo lƣờng: là sự định lượng, gồm cả ước tính, các nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra hoặc dự báo các sự kiện kinh tế có thể xảy ra. - Phân tích: là sự xác định nguyên nhân của các kết quả trên báo cáo và mối quan hệ của các nguyên nhân đó với các sự kiện kinh tế.
- Tổng hợp: là sự liên kết các số liệu kế toán hay số liệu kế hoạch nhằm trình bày thông tin một cách hợp lý, đồng thời đưa ra các kết luận rút ra từ các số liệu đó. 4 Lô©n v¨n th¹c sü Tr-êng §¹i häc BK -HN - Truyền đạt: là sự báo cáo các thông tin thích hợp cho nhà quản trị (ban giám đốc và các cấp lãnh đạo) và những người khác trong tổ chức. Theo thông tư 53/2006/TT-BTC, khái niệm về kế toán quản trị còn chi tiết thêm: Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp như: Chi phí từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;. nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế.2 Vai trò của kế toán quản trị a) Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch Dự toán ngân sách trong kế toán quản trị là công cụ để kế toán giúp ban quản trị lập kế hoạch.
Lập kế hoạch là việc thiết lập và thông báo những công việc cần thực hiện, những nguồn lực cần huy động, những con người phối hợp thực hiện, thời gian thực hiện, những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cần đạt được để tổ chức hướng về mục tiêu đã định. Trên cơ sở những ghi chép, tính toán, phân tích chi phí, doanh thu, kết quả từng hoạt động., kế toán quản trị lập các bảng dự toán doanh thu, chi phí, lợi nhuận, dự toán ngân sách để cung cấp thông tin trong việc phát họa dự kiến tương lai nhằm phát triển doanh nghiệp. b) Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức điều hành. Để đáp ứng thông tin cho chức năng tổ chức điều hành hoạt động của các nhà quản trị, kế toán quản trị sẽ cung cấp thông tin cho các tình huống khác nhau với các phương án khác nhau để nhà quản trị xem xét, ra quyết định đúng đắn nhất trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các mục tiêu đã vạch ra.
Các thông tin để nhà quản trị thực hiện chức năng điều hành cần phải kịp thời, liên quan đến thông tin về giá thành ước tính, thông tin về giá bán, thông tin về lợi nhuận từ các phương án sản xuất kinh doanh. Những thông tin này phải do kế toán đảm trách thu thập hàng ngày hoặc định kỳ. 5 Lô©n v¨n th¹c sü Tr-êng §¹i häc BK -HN c) Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát. Để biết được kế hoạch đã được lập có khả thi hay không, cần phải so sánh với thực tế.
Kế toán sẽ cung cấp cho nhà quản trị những thông tin chênh lệch giữa kế hoạch với thực tế, đồng thời dựa trên thực tế sẽ có những dự báo để nhà quản trị kịp thời điều chỉnh, đảm bảo tiến độ kế hoạch, hướng hoạt động của tổ chức về mục tiêu đã xác định. d) Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định. Thông tin kế toán thường là nhân tố chính trong việc ra quyết định của nhà quản trị. Điều này được thể hiện rất rõ qua bản chất của thông tin kế toán.
Nó là nguồn tin mang tính chính xác, kịp thời, hữu ích nhất so với thông tin từ những lĩnh vực chuyên ngành khác. Nhà quản trị phải có sự lựa chọn hợp lý trong nhiều phương án khác nhau để ra quyết định. Các quyết định trong một tổ chức có thể ảnh hưởng ngắn hạn đến tổ chức hoặc có thể là các quyết định chiến lược ảnh hưởng lâu dài đến tổ chức. Tất cả các quyết định đều có nền tảng từ thông tin và phần lớn thông tin do kế toán quản trị cung cấp.
Các thông tin này cũng có thể diễn đạt dưới dạng mô hình toán học, đồ thị, biểu đồ… để nhà quản trị có thể xử lý nhanh chóng.3 Nhiệm vụ của kế toán quản trị Theo thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006, nhiệm vụ của kế toán quản trị là: - Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị của đơn vị xác định theo từng thời kỳ. - Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán. - Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toán quản trị. - Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của Ban lãnh đạo doanh nghiệp.
6 Lô©n v¨n th¹c sü Tr-êng §¹i häc BK -HN 2. Đối tƣợng sử dụng và vị trí của kế toán quản trị trong hệ thống quản trị doanh nghiệp 2.1 Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị Như chúng ta đã biết, thông tin kế toán tài chính chủ yếu để nhằm phục vụ các đối tượng sử dụng có liên quan ở bên ngoài tổ chức. Còn thông tin kế toán quản trị thì các nhà quản lý điều hành bên trong tổ chức là đối tượng sử dụng. Các thông tin kế toán tài chính chỉ thực sự là thông tin cần thiết đối với các nhà quản lý, nhưng thật sự chưa phải là đủ, đó chỉ là những thông tin về quá khứ, những thông tin mà các nhà quản lý cần là để lập và thực hiện kế hoạch, kiểm soát và ra những quyết định cho hiện tại và tương lai.
Những thông tin kế toán đó là kế toán quản trị. Như vậy, đối tượng của kế toán quản trị là các nhà quản lý các cấp điều hành các tổ chức, doanh nghiệp.2 Vị trí của kế toán quản trị trong hệ thống quản trị doanh nghiệp Trong nền kinh tế còn chưa phát triển, kế toán quản trị chưa được quan tâm, kế toán quản trị chỉ như là phụ so với kế toán tài chính. Nhưng, khi nền kinh tế phát triển, kế toán quản trị ra đời như là một nhu cầu của nền kinh tế xã hội, nhất là khi có sự tách rời quyền sở hữu của chủ sở hữu doanh nghiệp và quyền quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp. Vai trò quan trọng của kế toán quản trị là cung cấp thông tin giúp các nhà quản lý ra các quyết định, hoạch định chiến lược trong tương lai.
Chính vì vậy, kế toán quản trị không chỉ là một môn khoa học trong chuyên ngành kế toán thực hiện việc ghi chép đo lường, tính toán, thu thập, tổng hợp. mà nó còn gắn liền với chức năng quản trị. Vì vậy, nó thực sự là công cụ và những tài liệu quí giá của các nhà quản trị. Tổ chức hoặc doanh nghiệp nào chưa có kế toán quản trị hoặc chưa phát huy được vai trò của nó thì các quyết định về quản lý chỉ là cảm tính, bản năng, sẽ mang lại nhiều rủi ro cho doanh nghiệp.
7 Lô©n v¨n th¹c sü Tr-êng §¹i häc BK -HN 3. So sánh giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị 3.1 Mối liên hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị - Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều đề cập đến các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc các sự kiện kinh tế của doanh nghiệp, cả hai đều có yêu cầu định lượng các kết quả sản xuất kinh doanh và đều nhằm thỏa măn hai mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp: Lợi nhuận và khả năng trả nợ. Vì vậy, cả hai đều quan tâm đến thu nhập, chi phí, tài sản, nguồn vốn và quá trình lưu chuyển tiền của doanh nghiệp. - Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho các nhà quản trị thực hiện các chức năng hoạch định, kiểm soát.
Trong hoạch định, kế toán quản trị sẽ sử dụng các thông tin quá khứ để ước tính thu nhập và chi phí trong tương lai.