Chương 1- Giới thiệu Chương 2- Cơ sở lý thuyết Chương 3- Mô hình và Phương pháp nghiên cứu Chương 4- Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5- Kết luận và đề xuất giải pháp 10 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này xây dựng khung lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ về thuế GTGT của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ đó đánh giá các nhân tố ảnh hưởng để xây dựng mô hình nghiên cứu. Chương này trả lời 2 vấn đề cơ bản: (1) Thứ nhất, Thuế GTGT là gì? (2) Thứ hai, về sự tuân thủ thuế GTGT bị ảnh hưởng bởi các nhân tố nào? 2.1 Khái niệm về sự tuân thủ thuế, thuế GTGT đặc điểm và vai trò của thuế GTGT. Khái niệm về sự tuân thủ thuế: “Tuân thủ thuế là việc thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật thuế. Tuân thủ thuế là hành vi bắt buộc đối với nhiều chủ thể khác nhau như cơ quan quản lý thuế, người nộp thuế, các tổ chức, cá nhân khác có liên quan được quy định trong các văn bản pháp luật về thuế.
Trong đó, sự tuân thủ thuế của người nộp thuế luôn là một vấn đề được quan tâm nhiều nhất. Tuân thủ thuế của người nộp thuế thể hiện ở việc chấp hành đầy đủ, kịp thời và đúng đắn các quy định của pháp luật thuế, cụ thể là việc chấp hành các tiêu chí thời gian, mức độ chính xác trung thực và đầy đủ của các hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và các nghĩa vụ khác về thuế của người nộp thuế.” Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Cộng hòa Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế GTGT vào năm 1954. Thuế GTGT theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajoutee (viết tắt là VAT), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT), dịch ra tiếng việt là thuế giá trị gia tăng. Đến nay thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới , trong đó có Việt Nam.
Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đã được cải cách đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế từng thời kì. Đánh dấu bước cải cách đầu tiên là việc ra đời một hệ thống thuế thống nhất, áp dụng chung cho mọi thành phẩn kinh tế; thứ hai là sự ra đời của một số sắc thuế còn nhiều nhược điểm, kìm hãm phát triển sản xuất như: Thuế GTGT thay thế thuế doanh thu, thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho thuế lợi tức… Trong đó thuế GTGT ra đời là một sự thay đổi căn bản trong các sắc thuế gián thu. Tại kì họp lần thứ 11 Quốc hội khóa 9 ngày 10/5/1997, Quốc hội đã thông qua Luật thuế GTGT và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999. Trong thời gian thực hiện Luật thuế GTGT được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình đất nước và đến nay, việc quản lý thuế GTGT được thực hiện thống nhất theo Luật thuế GTGT của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008.
Ngoài ra để thực hiện tốt Luật thuế GTGT cũng như vận dụng cho phù hợp với tình hình kinh tế của nước ta hiện tại. Chính phủ có ban hành Nghị định số 11 146/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2018. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ. Đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.1 Khái niệm Có nhiều quan niệm về thuế VAT.
Theo Luật số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 đã nêu: Thuế GTGT (VAT: Value Added Tax) là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Hay thuế GTGT- một loại thuế gián tiếp đánh vào tiêu thụ công cộng và cá nhân. Loại thuế này được chi trả bởi các tập đoàn mặc dù gánh nặng thuế được chuyển sang người tiêu dùng (Bendikiene, Saparnis, 2006), giá trị thuế GTGT đã được tính trong giá bán của hàng hóa và dịch vụ (Dilius, Kareivaite, 2010). Hàng hóa và dịch vụ thường được tính cùng với thuế GTGT nhằm thu nhập càng nhiều thì thuế nộp vào Ngân sách Nhà nước càng lớn.
Thuế GTGT thì tương đối đơn giản và rẻ. Thuế GTGT là một nhân tố của hệ thống thuế và là một nguồn thu quan trọng. Theo đề án của thuế GTGT, giá trị giá trị gia tăng được tạo ra trong mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, từ đó mỗi giai đoạn đem lại doanh thu cho ngân sách nhà nước (Bendikience, Saparnis, 2006). Thuế GTGT là thu nhập sau khi giá tiêu dùng cuối cùng được áp dụng, nhưng không ảnh hưởng đến sản xuất hoặc phân phối (Dilius, Kareivaite, 2010).
Giá trị gia tăng được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ với tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng. Giá trị gia Tổng giá trị hàng Tổng giá trị hàng hóa dịch vụ - tăng = hóa dịch vụ bán ra mua vào trong quá trình sản xuất Có thể thấy thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên về bản chất, thuế GTGT khác với các loại thuế gián thu khác, điều này thể hiện qua các đặc điểm của thuế GTGT.2 Đặc điểm của thuế GTGT - Thuế GTGT là loại thuế gián thu đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thông qua hành vi mua hàng hóa, dịch vụ đó (vì vậy thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng), là một nhân tố cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, là khoản thu được công thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác: giá cả hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT. Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó.
Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. 12 Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng. Tuy nhiên, trên thực tế khó xác định được đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng trung gian. Do vậy, cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế.
Số thuế GTGT ở khâu trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và người tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT là loại thuế có tính trung lập cao. Biểu hiện ở 2 khía cạnh: + Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế (Jenkins et al., 2006), do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Do vậy, thuế GTGT không phải là nhân tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
+ Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập (Jenkins et al.,2006): Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người phải trả khoản thuế đó. Thuế GTGT mang tính chất lũy thoái vì nó không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế như nhau nếu mua cùng một loại hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, khi so sánh với tỷ suất thuế GTGT trên tổng thu nhập thì người có có thu nhập cao có tỷ suất thấp hơn so với người có thu nhập thấp.
Dựa trên cơ sở là giá trị tăng thêm, với việc khấu trừ thuế và hoàn thuế, thuế GTGT thể hiện một số ưu điểm: Khắc phục được tình trạng thu thuế trùng lắp Thuế GTGT chỉ tính trên giá trị mới sáng tạo ra (gia trị tăng thêm) thông qua việc khấu trừ thuế khâu trước. Do đó, khắc phục được tình trạng thuế chồng thuế. Thuế GTGT không thu trùng lắp cho nên nó đã góp phần khuyến khích chuyên môn hóa sản xuất, hợp tác hóa nâng cao sản xuất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm Thuế GTGT không trung lập về mặt kinh tế Thuế GTGT mang tính trung lập đối với mức độ dài ngắn giữa các khâu trong quy trình SXKD – từ lưu thông đến tiêu dùng, dù qua nhiều khâu hay ít khâu thì tổng số thuế phải nộp qua các khâu là như nhau; nhưng lại không trung lập về mặt kinh tế, ưu điểm này được thể hiện bởi chính sách khấu trừ và hoàn thuế. Việc khấu trừ thuế đầu vào và hoàn thuế GTGT sẽ khuyến khích mạnh mẽ việc xuất khẩu và đầu tư.
Thuế GTGT dễ dàng được người nộp thuế (NNT) chấp nhận Gánh nặng của thuế được chia sẽ qua từng công đoạn để cuối cùng quy về người tiêu dùng sản phẩm. Đây là một loại thuế gián thu, người nộp thuế không phải là người 13 chịu thuế. Qua mỗi công đoạn, người nộp thuế chỉ việc trích số tiền thuế có trong giá bán để nộp cho Nhà nước. Do đó, qua mỗi công đoạn, Nhà nước sẽ thu một khoản tiền thuế nhất định trong tổng số thuế của hàng hóa, dịch vụ đó.
Như vậy, Nhà nước sẽ thu thành nhiều lần với số tiền nhỏ thay vì thu một lần với số tiền lớn. Thuế GTGT có ít trường hợp gian lận thuế Để được khấu trừ thuế, các sơ sở kinh doanh phải thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ và sổ sách kế toán. Khi thực hiện điều này mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh của đối tượng nộp thuế đều được ghi chép đầy đủ.Từ đó các đối tượng nộp thuế kê khai trung thực số thuế phải nộp trên sổ sách kế toán. Với ưu điểm này thuế GTGT được đánh giá là một kỹ thuật mới trong phương pháp đánh thuế gián thu.
Thuế GTGT là thuế gián thu Mặc dù còn một số vấn đề cố hữu trong công tác quản lý thuế, thuế GTGT là một xu hướng tăng thuế (Tait,1991). Hầu hết các nước áp dụng thuế GTGT bắt đầu với ý tưởng là cải cách hệ thống thuế hiện có, doanh số bán hàng được dựa trên doanh thu trung lập.