CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUÂN THỦ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI 1. Tổng quan nghiên cứu Trong những năm vừa qua, trên thế giới đã ghi nhận nhiều công trình khoa học nghiên cứu về việc tuân thủ thuế. Các tác giả đã phần nào khắc họa những nội dung quan trọng liên quan đến vấn đề tuân thủ thuế, trong đó có nhiều xu hướng tiếp cận khác nhau, ví dụ như: Các nghiên cứu của Zainal Abidin và cộng sự (2010); Lisowsky (2010); Noor và cộng sự (2012); Noor và cộng sự (2013); Yusof và cộng sự (2014) đã đưa ra mô hình nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến không tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên cơ sở dữ liệu thứ cấp; Trong đó các tác giả đã sử dụng các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để đo lường nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp. Kế thừa từ các kết quả nghiên cứu khoa học trước đây có liên quan, Vũ Hữu Đức và cộng sự (2009) đã sử dụng phương pháp phân tích mô phỏng dựa trên mối quan hệ giữa các chỉ BCTC và số liệu kê khai thuế đã chứng minh được một số yếu tố có tác động đến việc gây ra các sai lệch thuế trong quá trình kê khai thuế của các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn chưa đưa ra mô hình thực nghiệm. GIZ Sector Programme Public Finance (2010), Nguyễn Thị Lệ Thúy (2011), Nguyễn Thị Thanh Hoài và cộng sự (2011) đã tổng hợp và đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế, đặc biệt các tác giả đã mở rộng nhận thức về những yếu tố khác ngoài kinh tế tác động đến ý thức tuân thủ thuế của người nộp thuế như yếu tố tâm lý, xã hội. Qua những nghiên cứu kể trên, ta có thể thấy có rất nhiều các nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thuế, không tuân thủ thuế, tuy nhiên ở cả Việt Nam và thế giới đều chưa có những nghiên cứu cụ thể liên quan đến thực trạng 4 tuân thủ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều đó đã tạo ra khoảng trống trong nghiên cứu khoa học.
Khái quát về doanh nghiệp FDI 1. Khái niệm Doanh nghiệp FDI (Foreign Direct Investment) là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, là một hình thức đầu tư dài hạn của các cá nhân hoặc tổ chức nước này vào nước khác bằng cách thiết lập các nhà máy thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích nhằm đạt được các lợi ích lâu dài từ các hoạt động kinh doanh này Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư của một quốc gia đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn thành lập trên lãnh thổ của một quốc gia khác để tiến hành hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận. "Nhiều nước trên thế giới không phân biệt vốn đầu tư trong nước với vốn đầu tư nước ngoài và bởi vậy, không có khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; họ gọi các doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài theo hình thức tổ chức pháp lí của chúng, ví dụ: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.” FDI là hình thức mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế rất lớn. Vì vậy, mục đích hàng đầu của FDI chính là mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư.
Thu nhập mà chủ đầu tư thu được mang tính chất là thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức. Loại hình thu nhập này phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả kinh doanh. Muốn thu hút đầu tư, thúc đẩy kinh tế phát triển, các nước được đầu tư cần phải có hành lang pháp lý rõ ràng. Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định là cơ sở quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.
Đồng thời, lợi nhuận và rủi ro của các nhà đầu tư cũng tương ứng với tỷ lệ này. Chủ đầu tư có quyền tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Bên cạnh đó, họ còn được tự do lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình 5 thức đầu tư… Vì thế có thể đưa ra những quyết định phù hợp nhất mang lại lợi nhuận cao. Để được tham gia kiểm soát hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư, nhà đầu tư phải góp đủ số vốn tối thiểu, tùy theo quy định của mỗi quốc gia.
Thông thường, FDI được thực hiện thông qua việc xây dựng mới hay mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động, bằng việc mua cổ phiếu để thông tin xác nhận. Đặc điểm của các doanh nghiệp FDI Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là doanh nghiệp hợp nhất hoặc chưa hợp nhất, trong đó nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ 10% trở lên số cổ phần phổ thông hoặc quyền biểu quyết của doanh nghiệp được hợp nhất hoặc tương đương của doanh nghiệp chưa được hợp nhất. Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp có thể là công ty con, công ty liên kết hoặc chi nhánh. Công ty con là doanh nghiệp hợp nhất trong đó nhà đầu tư nước ngoài kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua một công ty con khác) hơn 50% quyền biểu quyết của cổ đông.
Công ty liên kết là doanh nghiệp mà nhà đầu tư trực tiếp và các công ty con của nó kiểm soát giữa 10% và 50% số cổ phần có quyền biểu quyết. Chi nhánh là một doanh nghiệp không hợp nhất thuộc sở hữu toàn bộ hoặc do doanh nghiệp hợp nhất. Phân loại các doanh nghiệp FDI - Dựa theo bản chất đầu tư Đầu tư phương tiện hoạt động: Bản chất đầu tư hình thức này là công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước thực hiện đầu tư; Hình thức đầu tư này làm tăng về khối lượng đầu tư vào. Mua lại và sáp nhập: Đây là hình thức hai hay nhiều các doanh nghiệp, công ty có vốn FDI đang hoạt động thực hiện thủ tục sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp mua 6 lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư; Hình thức này không nhất thiết dẫn đến tăng về khối lượng đầu tư vào.
- Dựa theo tính chất dòng vốn Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua các cổ phần hoặc mua trái phiếu của doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức cụ thể đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý vào công ty. Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận khi chưa phân phối thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ dùng để thực hiện đầu tư thêm mở rộng quy mô, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ, bù trừ công nợ nội bộ: Vốn vay nội bộ hay từ các khoản giao dịch nợ, bù trừ công nợ trong nội bộ doanh nghiệp được hiểu là giữa các chi nhánh hay trong công ty con cùng của một công ty đa quốc gia có thể thực hiện cho nhau vay để hoạt động đầu tư hay mua các loại cổ phiếu hay trái phiếu doanh nghiệp của nhau. Sau đó bù trừ công nợ để chuyển thành phần vốn góp mở rộng quy mô, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.
- Dựa theo động cơ của các nhà đầu tư Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm mục đích khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở các nước tiếp nhận, khai thác nguồn nhân lực lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động có kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này còn nhằm để khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Đây cũng là một cách khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành giữa các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ mình đang cạnh tranh.
Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng việc giá thành đầu vào kinh doanh mức thấp ở nước tiếp nhận như về giá về nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá 7 các yếu tố để thực hiện hoạt động sản xuất: điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng rẻ, thuế suất ưu đãi hỗ trợ… Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là một hình thức đầu tư nhằm để mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị các đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, nó còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và các khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu. Các loại thuế liên quan đến doanh nghiệp FDI Do tính chất và ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp có nhiều sự khác nhau, nên các loại thuế áp dụng áp dụng vào cụ thể một doanh nghiệp cũng có nhiều sự khác biệt. Tuy nhiên, dưới đây là các loại thuế mà hầu như xuất hiện ở tất cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Các loại thuế đều có chung 4 nguyên tắc đánh thuế như sau: Thứ nhất, đánh thuế phải đảm bảo công bằng. nguyên tắc này được hiểu là mọi đối tượng có năng lực chịu thuế đều phải nộp thuế và mọi người có điều kiện liên quan đến thuế như nhau phải được đối xử về thuế như nhau. Thứ hai, đánh thuế phải đảm bảo cân bằng lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế. Việc đánh thuế vừa phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước vừa phải đảm bảo người nộp thuế không phải nôp số thuế quá lớn.
Thứ ba, đánh thuế phải đảm bảo dễ hiểu, đạt hiệu quả. Nội dung của nguyên tắc này là các loại thuế phải đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu cho mọi đối tượng và có tính ổn định đồng thời hệ thống thuế phải được tổ chức sao cho chi phí quản lí thuế không cao hơn mức mà mục tiêu đề ra cho phép. Thứ tư, đánh thuế phải đảm bảo không xảy ra tình trạng một đối tượng tính thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần. Khi ban hành một loại thuế cần tránh tình trạng thuế chồng lên thuế.