Phần mở đầu. Chương 2: Cơ sở lý luận. Chương 3: Thực trạng tuân thủ thuế Thu nhập cá nhân tại chi cục thuế quận 11. 5 Chương 4: Mô hình nghiên cứu và đánh giá các nhân tốảnh hưởng đến tính tuân thuế TNCN tại Chi cục Thuế Quận 11.
Chương 5: Nhận xét kết quả nghiên cứu và đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng tính tuân thủ thuế TNCN tại Chi cục Thuế Quận 11. 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân 2.1 Định nghĩa Thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập nhận được của cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định. Đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân mà pháp luật của các quốc gia hướng tới là thu nhập của các cá nhân trong xã hội. Trong đó, thu nhập cá nhân có thể hiểu là tổng số tiền, hàng hóa, dịch vụ mà một cá nhân nhận được trong một thời kỳ nhất định.2 Đặc điểm Thuế TNCN là thuế trực thu, người chịu thuế cũng là người nộp thuế và khó có thể chuyển dịch gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác, thuế này có tính công bằng hơn thuế gián thu vì phần đóng góp về thuế thường phù hợp đối với khả năng của từng đối tượng nộp thuế, có tính phân loại đối tượng nộp thuế.
Thông thường, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức khởi điểm thu nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết. Thêm vào đó khi thu nhập cá nhân tăng lên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm. Ở nhiều nước còn có quy định miễn, giảm thuế cho những cá nhân mang gánh nặng xã hội. Ở nước ta hiện nay, thu nhập của các tầng lớp nhân dân có sự chênh lệch nhau, số đông dân cư có thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số cá nhân có thu nhập khá cao, nhất là những cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khu chế xuất hoặc có một số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Mặc dù thuế thu nhập cá nhân chưa mang lại số thu lớn cho ngân sách Nhà nước, song xét trên phương diện công bằng xã hội và phương diện công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì thuế thu nhập cá nhân có vị trí cực kỳ quan trọng, do đó việc điều tiết thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao là cần thiết, đảm bảo thực hiện chính sách công bằng xã hội. 7 Thuế TNCN là sắc thuế có độ nhạy cảm cao, là loại thuế có liên quan trực tiếp đến lợi ích của người nộp thuế và liên quan tới hầu hết các cá nhân trong xã hội. Đặc điểm này xuất phát từ tính chất thuế trực thu của thuế TNCN. Thuế TNCN có đối tượng đánh thuế là thu nhập đã phát sinh trong thực tế.
Tuy nhiên, không phải thu nhập nào cũng là đối tượng của thuế TNCN mà chỉ có những thu nhập đáp ứng những điều kiện nhất định mới trở thành đối tượng chịu thuế. Vì thế một trong những nội dung quan trọng của chính sách thuế TNCN là phải xác định đối tượng chịu thuế. Thông thường thu nhập chịu thuế phải là thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh có tính phổ biến và Nhà nước có thể kiểm soát được. Tuy nhiên khi đi vào cụ thể chính sách thuế ở mỗi quốc gia, thu nhập chịu thuế có những quy định riêng tùy theo hoàn cảnh kinh tế và quan điểm đánh thuế của nhà nước nhất là chi phí được khấu trừ trước khi đánh thuế.
Thuế TNCN có tính ổn định không cao, việc quản lý thuế, thu thuế tương đối khó khăn, chi phí quản lý và thu thuế thường lớn hơn so với các loại thuế khác. Đối với thuế thu nhập ngoài việc xác định thu nhập chịu thuế còn phải xác định thời điểm phát sinh thu nhập, nguồn gốc, địa điểm, thời hạn cư trú của đối tượng nộp thuế và các khoản chi phí được trừ trước khi tính thuế. Thuế TNCN đánh thuế theo nguyên tắc có xem xét đến khả năng trả thuế hay hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế. Thuế TNCN có tính chất lũy tiến cao, thuế suất được thiết kế theo biểu lũy tiến từng phần nhằm đảm bảo tính công bằng giữa các cá nhân phải nộp thuế.
Thuế TNCN luôn gắn liền với chính sách kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Để thuế thu nhập đạt được hiệu quả cao trong quá trình áp dụng phải đảm bảo cân bằng lợi ích giữa người nộp thuế và nhà nước.3 Vai trò Là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội.Trong chính sách thuế, nhà nước đã thiết kế các đối tượng điều tiết khác nhau 8 với các mức thuế suất và chế độ ưu đãi khác nhau. Do vậy chính sách thuế TNCN có tác động mạnh mẽ, trực tiếp tham gia phân phối thu nhập xã hội từ người nộp thuế. Nhà nước áp dụng chính sách thuế TNCN phải thống nhất giữa các tầng lớp dân cư.
Khi cá nhân có thu nhập từ kinh doanh và có thu nhập giống nhau đều phải nộp thuế như nhau (bình đẳng theo chiều ngang). Người có thu nhập quá thấp không đủ bảo đảm đời sống thì không phải nộp thuế (bình đẳng theo chiều dọc). Sự bình đẳng của chính sách thuế sẽ tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội làm ăn có hiệu quả. Là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho Ngân sách nhà nước bởi thuế TNCN có diện thu thuế rộng, khả năng tạo nguồn thu cho NSNN cao, có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn nên cùng với sự phát triển của nền kinh tế thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng không ngừng tăng lên, nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì không cần phải thường xuyên thay đổi mà vẫn thu được một mức thu mong muốn.
Ở Việt Nam tỷ trọng thuế TNCN hiện nay khoản 10%. Là công cụ kinh tế vĩ mô được Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập tiêu dùng và tiết kiệm. Khi nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái, nhà nước có thể giảm thuế để chống lại sự suy thoái. Chính sách tài chính như thế gọi là chính sách tài khóa nới lỏng.
Ngược lại, khi nền kinh tế ở tình trạng lạm phát và có hiện tượng nóng, thì nhà nước có thể tăng thuế để ngăn cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng quá nóng dẫn tới đổ vỡ. Chính sách tài khóa như thế gọi là chính sách tài khóa thắt chặt. Khi sử dụng công cụ thuế để điều tiết nền kinh tế vĩ mô có thể vấp phải những trở ngại chính trị. Thực hiện chính sách tài chính nới lỏng thông qua giảm thuế thì dễ.
Nhưng khi muốn thực hiện chính sách tài chính thắt chặt thông qua tăng thuế lại rất dễ bị người dân phản đối. Góp phần quản lý thu nhập dân cư. Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, cơ quan Nhà nước có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp, không hợp pháp để có những biện pháp xử lý phù hợp, giúp Chính phủ 9 có thêm cơ sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội, về cơ cấu thu nhập dân cư để đề ra các chính sách kinh tế xã hội phù hợp.2 Hiểu biết thuế Theo ERN CHEN LOO et al (2009) hiểu biết thuế được đánh giá là hiệu quả nhất trong việc xác định hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân của người nộp thuế, sự ra đời của hệ thống tự kê khai thuế giúp cải thiện trình độ hiểu biết thuế thu nhập cá nhân của người nộp thuế. Hơn nữa, những hiểu biết về thuế ảnh hưởng đến việc tự kê khai thuế của người nộp thuế, đặc biệt là về sự hiểu biết của họ trong việc xử lý các vấn đề về thuế, mà cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của họ.
Theo Merima Ali et al (2013) hiểu biết thuế tương quan một cách tích cực đối với hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế. Hệ thống thuế là một phạm trù phức tạp vì thế người nộp thuế chỉ có một sự hiểu biết giới hạn về nó. Do tính chất phức tạp của các chính sách về thuế và tài chính, chính phủ hiếm khi công bố công khai một cách chi tiết và vì vậy sự hiểu biết về thuế của người nộp thuế sẽ thấp (Young-dahl & Tinsley, 1978). Sự hiểu biết chủ yếu của người dân về các chính sách thuế, chẳng hạn như đánh thuế lũy tiến là không đầy đủ (Roberts, Hite & Bradley, 1994).
Dựa trên bằng chứng từ Mỹ & Anh, Steinmo (1998) lưu ý rằng: nghiên cứu thái độ, nhận thức, kiến thức về thuế và các chính sách thuế của người dân, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng người dân thực sự tiếp cận thông tin sai lệch hoặc thông tin bị lẫn lộn. Hiểu biết về pháp luật thuế được giả định là có tầm quan trọng đối với sở thích và thái độ đối với việc nộp thuế cũng như việc tự kê khai nộp thuế (Kasipillai Mustafa, 2000). Vấn đề này đã từng được Jackson và Milliron (1986) tranh luận rằng giáo dục có hai yếu tố: Bằng cấp về hiểu biết tài chính và những chứng chỉ cụ thể về hiểu biết liên quan đến những cơ hội tránh thuế. Theo như Mohd (2002), thông tin về 10 những quy định thuế kết hợp với kiến thức tài chính có thể suy ra được những hệ quả kinh tế đối với người nộp thuế.3 Nhận thức về tính công bằng thuế Công bằng là tiêu chuẩn để đánh giá sự khác biệt trong cách cư xử thuế của các cá nhân khác nhau (Murphy & Nagel, 2002).
Lý thuyết công bằng cho rằng mọi người mong đợi một tỉ lệ tương đương giữa số thuế phải nộp và phúc lợi mang lại cho họ. Lý thuyết công bằng cho rằng nếu tỉ lệ tương đương không tồn tại thì sẽ thúc đẩy sự thay đổi phần đóng góp (Cuccia & Carnes, 2001). Công bằng và trao đổi dựa trên những lý thuyết xem cá nhân hành động đúng pháp luật, có tính vụ lợi và có định hướng mục tiêu, họ đánh giá công bằng là sự cân xứng giữa lợi ích họ nhận được với sự đóng góp thuế của họ.